
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Bà Võ Thị Thúy L đề nghị Tòa án có thẩm quyền giải quyết: Chấm dứt thực hiện việc “Xác nhận đặt chỗ” số BCS-HCM-015431 ngày 03/3/2019 do nhân viên Đặng Ngọc T và Nguyễn Minh C thực hiện công việc không có ủy quyền. Yêu cầu về việc tuyên bố giao dịch vô hiệu, bản “Xác nhận đặt chỗ” số BCS- HCM- 015431 ngày 03/3/2019 là vô hiệu toàn bộ do “trong quá trình giao dịch, ngay trước thời điểm người tiêu dùng ký các văn bản giao dịch (Xác nhận đặt chỗ)” thì người tiêu dùng đã bị Công ty L3, Người tiêu dùng bị nhầm lẫn, có việc trái quy định và điều cấm của luật. Buộc ông Đặng Ngọc T và ông Nguyễn Minh C cùng liên đới hoàn trả lại số tiền 66.262.500 đồng.
Tại phiên tòa, người đại diện nguyên đơn yêu cầu Công ty TNHH K cùng có trách nhiệm liên đới với ông T và ông C hoàn trả lại số tiền 66.262.500 đồng cho bà L vì Công ty TNHH K du Lịch Vịnh Thiên Đ đang giữ số tiền này. Đây là khoản tiền bà L đã đặt cọc để sở hữu kỳ nghỉ từ Công ty TNHH K. Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định quan hệ pháp luật tranh chấp về giao dịch dân sự đòi tiền cọc. Toà án cấp phúc thẩm xác định quan hệ tranh chấp là “Hợp đồng dịch vụ” được quy định tại Điều 513 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 14 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cho đúng tinh thần Án lệ số 42/2021/AL.
Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ số PBRC-S-072224 thuộc loại hợp đồng soạn sẵn do nhà cung cấp dịch vụ đưa ra, soạn sẵn quy định thỏa thuận trọng tài, nay nguyên đơn là người tiêu dùng không đồng ý lựa chọn trọng tài và yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết là phù hợp Điều 38 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Điều 17 Luật Trọng tài thương mại và hướng dẫn tại khoản 5
Điều 4 của Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã thụ lý và giải quyết vụ án đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015 và còn trong thời hiệu khởi kiện quy định tại Điều
429 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Các đương sự đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của bà Võ Thị Thúy L là nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1] “Xác nhận đặt chỗ” ngày 03/3/2019 là mẫu do Công ty TNHH K du
lịch Vịnh Thiên Đ phát hành và có đóng dấu của Công ty.
“Xác nhận đặt chỗ” được ký kết giữa bà Võ Thị Thúy L (Khách nghỉ dưỡng) với ông Đặng Ngọc T (Quản lý kinh doanh) với nội dung sử dụng tuần nghỉ tại Alma 2019, loại căn hộ A, tuần số 44 theo hợp đồng số PBRC-S-072224.
Xác nhận đặt chỗ không phải là tài liệu duy nhất được ký kết giữa nguyên đơn với Công ty, mà ngay sau đó nguyên đơn và Công ty đã ký hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ số PBRC-S 072224 cùng ngày trên cơ sở “Xác nhận đặt chỗ” số BCS- HCM-015431 ngày 03/3/2019.
Theo Hợp đồng Lao động số ASG160238/2016/HĐLĐTH/2 ngày 17/9/2018 giữa Công ty TNHH K du lịch Vịnh Thiên Đ với ông Đặng Ngọc T thì từ ngày 17/9/2018 đến hết ngày 16/9/2019, ông T là nhân viên của Công ty với chức vụ là quản lý kinh doanh thuộc bộ phận kinh doanh của Công ty.
Tại nội dung mô tả công việc, gói lợi ích và định nghĩa đính kèm theo hợp đồng lao động thì trách nhiệm công việc mà ông T được công ty giao là tham gia vào quá trình bán hàng bao gồm: Đàm phán, đưa ra quyết định… và nhiệm vụ là đại diện cho công ty với danh dự và sự thành thật; đồng thời trong phần định nghĩa đã định nghĩa quản lý kinh doanh là người được đào tạo trong công ty, được công ty trao quyền bán quyền nghỉ dưỡng và quản lý một đội ngũ kinh doanh.
Như vậy, khi tham gia ký kết “Xác nhận đặt chỗ” ngày 03/3/2019 với bà Võ Thị Thúy L thì ông T đã ký với tư cách là đại diện cho Công ty TNHH K theo phạm vi trách nhiệm công việc, nhiệm vụ mà ông T được công ty giao.
[2.2] Thực hiện “Xác nhận đặt chỗ” ngày 03/3/2019, bà Võ Thị Thúy L đã đặt cọc cho ông Nguyễn Minh C số tiền 1.000.000 đồng theo phiếu thu số 0019584 ngày 03/3/2019 và 65.262.500 đồng theo phiếu thu số 0019586 ngày 03/3/2019, tổng cộng là 66.262.500 đồng. Tại thời điểm này, ông C là nhân viên đại diện kinh doanh thuộc bộ phận kinh doanh của Công ty TNHH K theo Hợp đồng lao động số ASG181396/2018/HĐLĐTH/1 ngày 06/12/2018 và khi thu tiền ông C đã sử dụng các phiếu thu (có đóng dấu treo) của Công ty TNHH K, đồng thời Công ty đã xuất các hóa đơn tài chính số 0001068 và 0001067 trong cùng ngày 03/3/2019. Mặt khác, 02 phiếu thu số 0019584, 0019586 thể hiện rõ nội dung thu là tiền đặt cọc cho Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ số 072224 của chủ sở hữu là bà Võ Thị Thúy L và Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ số PBRC-S-072224 ngày 03/3/2019 được ký kết giữa bà L với Công ty.
Như vậy, giao dịch “Xác nhận đặt chỗ” số BCS-HCM-015431 ngày
03/3/2019 được xác lập giữa một bên là bà Nguyễn Thị Thúy L2 với bên còn lại là Công ty TNHH K. Do đó, nguyên đơn khởi kiện ông Đặng Ngọc T, ông Nguyễn Minh c để yêu cầu chấm dứt, tuyên bố vô hiệu đối với “Xác nhận đặt chỗ” và hoàn trả lại số tiền 66.262.500 đồng là khởi kiện không đúng chủ thể. Lẽ ra, nguyên đơn phải khởi kiện đối với bị đơn là Công ty TNHH K.
Ngoài ra, bản chất giấy xác nhận đặt chỗ là hợp đồng đặt cọc. Theo thỏa thuận thì số tiền đặt cọc trên sẽ chuyển thành số tiền thanh toán đợt 1 khi đến ngày khai trương chính thức. Như vậy, tại thời điểm xác lập Giấy xác nhận đặt chỗ thì số tiền trên là tiền đặt cọc để đặt chỗ nhằm đảm bảo thực hiện hợp đồng dịch vụ. Hợp đồng đặt cọc này không trái pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Mặt khác, tại mục 4.1 của Hợp đồng cũng có quy định: “Khách nghỉ dưỡng, theo Hợp đồng này, cam kết không hủy ngang và đồng ý đặt chỗ để hưởng q uyền nghỉ dưỡng theo các điều khoản và điều kiện của Hợp đồng này. Để đặt chỗ, khách nghỉ dưỡng sẽ thanh toán tiền đặt cọc cho Công ty theo Điều 5.2 Phụ lục C”. Công ty TNHH K không vi phạm hợp đồng, nguyên đơn cũng không có chứng cứ chứng minh bị đơn và Công ty TNHH K vi phạm hợp đồng đặt cọc; các bên đã thỏa thuận Hợp đồng không bị hủy ngang; “Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ” không bị vô hiệu như yêu cầu của nguyên đơn, do đó, yêu cầu hoàn trả số tiền 66.262.500 đồng của nguyên đơn là không có căn cứ. Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
[2.3] Người đại diện theo uỷ quyền của ông Goh Leong H1 đề nghị huỷ bản án sơ thẩm nhưng không có kháng cáo. Trong phạm vi xét xử phúc thẩm, Hội đồng xét xử không xem xét việc này.
[3] Từ những phân tích trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đúng pháp luật. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà L2, giữ y bản án sơ thẩm như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đề nghị.
Bản án sơ thẩm ghi số tiền 66.262.600 đồng trong phần tuyên án, đúng là 66.262.500 đồng mới chính xác. Toà án cấp phúc thẩm điều chỉnh lại cho chính xác số tiền yêu cầu không được chấp nhận.
Đối với phần án phí dân sự sơ thẩm, Toà án cấp sơ thẩm có sự nhầm lẫn về thông tin tại 02 biên lai tạm ứng án phí mà bà Võ Thị Thúy L đã nộp. Vì vậy Toà án cấp phúc thẩm điều chỉnh lại thành biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2019/0005570 ngày 20 tháng 12 năm 2019 và 1.659.050 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2019/0005571 ngày 20 tháng 12 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1 cho chính xác.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà L phải chịu án phí do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận.
[NGUỒN: BẢN ÁN SỐ 366/2024/DS-PT NGÀY 29/5/2024 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ ]
LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 366/2024/DS-PT
………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn