NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xửphúc thẩm thấy rằng:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Tại phiên tòa phúc thẩm những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm Ủy ban nhân dân thành phố P, Ủy ban nhân dân xã D và Ban Q2 có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án theo quy định. [1.2] Tòa án cấp sơ thẩm xác định đây là vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất và có xem xét đến quyết định cá biệt của cơ quan Nhà nước là đúng quy định tại khoản 9 Điều 26 và Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định: sau khi Tòa án có Quyết định đưa vụ án ra xét xử thì bà L mới có yêu cầu hủy các Quyết định cá biệt gồm Quyết định số 112/QĐ-BQLPTPQ, số 113/QĐ-BQLPTPQ của Ban Q2 (nay là BQL khu kinh tế P1) là vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên không chấp nhận là không đúng pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự, cụ thể “Khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trải pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết”. Như vậy, trong quá trình giải quyết vụ án nếu có căn cứ xác định các Quyết định cá biệt gồm Quyết định số 112/QĐ-BQLPTPQ, số 113/QĐ-BQLPTPQ nêu trên là trái pháp luật thì Tòa án có quyền hủy các quyết định này mà không phụ thuộc vào việc đương sự có yêu cầu hay không. [1.3] Ngoài ra, quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm xác định các Quyết định số 1979/QĐ-UBND ngày 24/5/2012 của Chủ tịch UBND huyện P và Quyết định số 2586/QĐ-UBND ngày 13/12/2012 của Chủ tịch UBND tỉnh K là các quyết định cá biệt liên quan là đúng, tuy nhiên cấp sơ thẩm cho rằng tại Quyết định giám đốc thẩm số 11/2019/HC-GĐT ngày 18/4/2019 của Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm số 05/2016/HC-ST ngày 02/02/2016 của Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang và đình chỉ giải quyết vụ án và Quyết định 1979/QĐ-UBND có hiệu lực nên không xem xét tính hợp pháp của Quyết định này. Xét nhận định nêu trên của Tòa án cấp sơ thẩm là không phù hợp pháp luật vì Quyết định giám đốc thẩm số 11/2019/HC-GĐT của Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm số 05/2016/HC-ST ngày 02/02/2016 của Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang và đình chỉ giải quyết vụ với lý do là hết thời hiệu khởi kiện, như vậy về nội dung của Quyết định 1979/QĐ-UBND ngày 24/5/2012 và Quyết định liên quan 2586/QĐ-UBND ngày 13/12/2012 chưa được Tòa án xem xét nên cần phải được đánh giá về tính hợp pháp và giải quyết trong vụ án này.
[2] Về diện tích đất tranh chấp: Căn cứ biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, Bản Trích đo địa chính ngày 11/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P thì diện tích đất tranh chấp thực tế là 26.041m²; trong đó có 21256,7m² thuộc một phần thửa số 74 trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 659750 (số vào số cấp GCN: CT10822) ngày 06/7/2017; 1588,3m² thuộc một phần thửa 76 trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 659748 (số vào sổ cấp GCN: CT10820) ngày 06/7/2017; 2234,0m2 thuộc một phần thửa số 75 trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 659747 (số vào số cấp GCN: CT10819) ngày 06/7/2017 được UBND tỉnh K cấp cho Công ty TNHH M1 (nay là Công ty cổ phần M1 – B) và 962m² nằm ngoài giấy chứng nhận.
[3] Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất: Các chứng cứ có tại hồ sơ thể hiện vợ chồng bà Phan Kim L khai phá được diện tích đất 30.000m2 tại ấp C, xã D, huyện P, tỉnh Kiên Giang từ trước năm 1975, gia đình bà L sử dụng cất nhà ở và lập vườn trồng đào, dừa, hoa màu trên toàn bộ diện tích đất. Nội dung này được UBND xã D, UBND thành phố P, cũng như UBND tỉnh K thừa nhận. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự đây là tình tiết không phải chứng minh.
[4] Gia đình bà L sử dụng đất ổn định, liên tục đến năm 1994 thì UBND xã D vận động một số hộ dân hiến đất để xây dựng khu dân cư nông thôn (gồm chợ, khu văn hóa, khu phân lô đất ở) trong đó có hộ gia đình bà L, UBND xã cam kết gia đình bà L. hiến đất thì sẽ được cấp lại 01 nền nhà 6m x 18m =108m², vợ chồng bà L đồng ý giao diện tích đất 26000m² và được nhận tiền bồi thường hoa màu 6.200.000 đồng. Tuy nhiên việc giao đất không được lập biên bản và không được đo đạc cụ thể mà chỉ giao bằng miệng, diện tích 26.000m2 đất vẫn do gia đình bà L quản lý, sử dụng. Sau đó dự án khu dân cư không được triển khai vì không được UBND tỉnh K phê duyệt. Tại báo cáo kết luận thanh tra số 18/BC-TTCP ngày 06/01/2021 của Thanh tra Chính phủ đã kết luận rõ: “Trong khi chủ trương quy hoạch chợ và khu dân sư nông thôn chưa được UBND tỉnh phê duyệt, lãnh đạo UBND xã D đã vận động người dân giao hiến đất, thu tiền san lấp mặt bằng và tiến hành san lấp, UBND xã chỉ sử dụng một phần đất được hiến làm trạm y tế, nhà văn hóa (phía đối diện đất giao cho công ty M1), còn lại để hoang hóa mà không trả lại đất cho người dân canh tác. Những việc làm trên của lãnh đạo UBND xã D đã vi phạm Điều 86 Luật đất đai năm 1993, gây bức xúc trong nhân dân, làm mất lòng tin của người dân vào chính quyền”.
Như vậy, hộ gia đình bà L. đã có quá trình khai phá đất và sử dụng ổn định từ trước ngày 15/10/1993, khi giao đất cho UBND xã, được UBND xã thỏa thuận giao 01 nền tại chỗ. Tuy nhiên, sau đó quy hoạch chợ không thành, cam kết của UBND xã giao 01 nền nhà tại chỗ chưa được thực hiện. Đặc biệt, UBND xã D lúc đó chưa thiết lập các thủ tục pháp lý cần thiết để xác lập quyền quản lý, sử dụng đất công, do đó đất vẫn thuộc quyền quản lý, sử dụng của hộ bà L, hiện nay gia đình bà L vẫn đang quản lý sử dụng diện tích đất này.
[5] Xét các Quyết định cá biệt có liên quan, thấy rằng:
[5.1] Với các chứng cứ nêu trên, đặc biệt là báo cáo kết luận thanh tra số 18/BC-TTCP ngày 06/01/2021 của Thanh tra Chính phủ xác định đất vẫn thuộc quyền quản lý của các hộ dân, trong đó có gia đình bà L, đất của gia đình bà L không bị thu hồi và giao cho người khác sử dụng vì vậy vào năm 2005 UBND tỉnh K vẫn giao cho Công ty M1 145.823,38m², trong đó có diện tích đất 26.000m² của gia đình bà L là không đúng quy định của Luật đất đai năm 2003. Do đó, Quyết định số 1979/QĐ-UBND ngày 24/5/2012 của Chủ tịch UBND huyện P bác khiếu nại của bà L và Quyết định số 2586/QĐ-UBND ngày 23/12/2012 của Chủ tịch UBND tỉnh K giữ nguyên Quyết định 1979/QĐ-UBND là không đúng. Tiếp đến ngày 06/10/2015 Ban Q2 (nay là Ban Q2) ban hành Quyết định số 112/QĐ-BQLPTPQ; Quyết định số 113/QĐ-BQLPTPQ cho thuê đất đối với Công ty M1 (nay là Công ty Cổ phần MI) để sử dụng vào mục đích đất thương mại dịch vụ (Dự án Khu D) tại ấp C, xã D, huyện P (nay là thành phố), tỉnh Kiên Giang và ngày 06/7/2017 UBND tỉnh K cấp các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 659750 (số vào sổ cấp GCN: CT10822); số CI 659748 (số vào số cấp GCN: CT10820) số CI 659747 (số vào số cấp GCN: CT10819) cho Công ty TNHH M1 (nay là Công ty Cổ phần MI) trong đó có phần diện tích 26.000m² của bà L là không đúng pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của gia đình bà L.
[6] Ngoài ra, cũng theo báo cáo kết luận của thanh tra Chính phủ thì từ năm 2002 Công ty M1 đã được chấp thuận địa điểm để đầu tư phát triển du lịch tại xã D nhưng mãi đến năm 2015 Dự án đầu tư khu du lịch sinh thái – Lan Anh R mới được phê duyệt lần đầu và cũng mãi cho đến nay Công ty mới chỉ đổ đất san lấp rồi để trống gây bức xúc cho nhân dân địa phương yêu cầu phải thu hồi Dự án. Tiếp tục đến ngày 07/5/2025 Văn phòng Chủ tịch nước có văn bản số 594/VPCTN-PL chuyển đơn của bà Phan Kim L đề nghị xem xét về việc sai phạm thu hồi đất đai cấp cho Công ty M1 có dấu hiệu tồn tại lợi ích nhóm của chính quyền tỉnh Kiên Giang, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của gia đình bà L. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay phía công ty M1 cũng thừa nhận toàn bộ dự án chưa có bất kể công trình xây dựng gì, mới chỉ dừng lại ở việc san lấp mặt bằng. Như vậy dư án của Công ty M1 sau khi được phê duyệt 10 năm vẫn chưa được thực hiện, triển khai vẫn đang để đất trống.
[7] Đánh giá tổng hợp toàn bộ các tài liệu, chứng cứ nêu trên thấy rằng việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Kim L là không đúng pháp luật. Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bà Phan Kim L và sửa toàn bộ Bản án sơ thẩm; chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phan Kim L.
[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị chấp nhận kháng cáo của bà Phan Kim L, sửa toàn bộ Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L là có căn cứ chấp nhận. Quan điểm của luật sư đề nghị bác kháng cáo của bà L là không có căn cứ chấp nhận.
[9] Về án phí, chi phí tố tụng khác:
[9.1] Án phí sơ thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên án phí sơ thẩm và chi phí tố tụng khác được tính lại như sau: Bà Phan Kim L không phải chịu tiền án phí sơ thẩm. – Công ty TNHH M1 (nay là Công ty Cổ phần M1) phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm và phải chịu chi phí trích đo địa chính 7.866.625 đồng, chi phí định giá 265.000.000 đồng. Do phía bà L đã nộp các khoản tiền này nên Công ty TNHH M1 (nay là Công ty Cổ phần M1) có trách nhiệm hoàn trả cho bà Phan Kim L.
[9.2] Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bà L không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.
[NGUỒN: BẢN ÁN SỐ 680/2025/DS-PT NGÀY 18/6/2025 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]
LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 680/2025/DS-PT
……………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn
