Feel free to go with the truth

Trang chủ / Nghiên cứu học tập / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Yêu cầu khởi kiện thuộc vụ án hành chính nhưng Tòa sơ thẩm xác định là đòi tài sản trong khi UBND huyện và nguyên đơn không có quan hệ chuyển nhượng QSDĐ dẫn đến việc giải quyết vụ án không đúng

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Yêu cầu khởi kiện thuộc vụ án hành chính nhưng Tòa sơ thẩm xác định là đòi tài sản trong khi UBND huyện và nguyên đơn không có quan hệ chuyển nhượng QSDĐ dẫn đến việc giải quyết vụ án không đúng

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; ý kiến trình bày của các đương sự và ý kiến tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Ngày 24/3/2023, bị đơn UBND huyện BQ có đơn kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm số 02/2023/DS-ST ngày 10/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang với nội dung không đồng ý trả ông S 2,1 tỷ đồng, đơn kháng cáo gửi trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm; ngày 26/7/2023 và tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn đề nghị xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm nêu trên và đề nghị hủy bản án sơ thẩm. Xét thấy việc thay đổi, bổ sung kháng cáo của bị đơn không vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu nên được chấp nhận để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[1.2] Việc vắng mặt của đương sự tại phiên tòa phúc thẩm: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà S, anh T, chị H vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có văn bản, ý kiến xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành phiên tòa phúc thẩm theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo bản án sơ thẩm nhận định, nguyên đơn ông HVS khởi kiện đòi lại tài sản đối với bị đơn UBND huyện BQ nên Toà án nhân dân tỉnh Hà Giang thụ lý, giải quyết là vụ án dân sự. Tuy nhiên, nội dung khởi kiện của ông S có liên quan trực tiếp đến việc UBND huyện BQ ban hành Quyết định thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng và cấp đất tái định cư cho ông HVS. Trong vụ án này, ông S khởi kiện yêu cầu buộc UBND huyện BQ phải cấp trả ông 01 ô đất tái định cư có chiều rộng 05m, chiều dài 22m, diện tích 110m2 có địa chỉ tại khu tái định cư Tổ 3, thị trấn VQ, huyện BQ, tỉnh Hà Giang. Yêu cầu của ông S xuất phát từ Quyết định hành chính số 2480/QĐ-UB ngày 21/10/2004 của UBND huyện BQ về việc thu hồi đất ở và đất vườn để xây dựng khu dân cư mới và Quyết định hành chính số 2858/2007/QĐ-UBND ngày 14/11/2007 của UBND huyện BQ về việc thu, nộp tiền cấp đất tái định cư lần 01 đối với các hộ dân trong khu quy hoạch dân cư Tổ dân phố số 3, thị trấn VQ vào ngân sách Nhà nước nên yêu cầu khởi kiện của ông S phải được xác định là vụ án hành chính mới đúng.

[2] Về nội dung: Xét nội dung kháng cáo của bị đơn UBND huyện BQ, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy:

[2.1] Trên cơ sở yêu cầu khởi kiện của ông HVS về việc đề nghị buộc UBND huyện BQ phải có trách nhiệm hoàn trả lại cho ông số tiền là giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm năm 2022 đối với ô đất mà đáng lẽ ông S được cấp từ năm 2007 (có giá trị năm 2007 là 50.000.000 đồng), cụ thể: chiều rộng 05m, chiều dài 22m, diện tích là 110m2 tại địa chỉ Khu tái định cư, Tổ 3, thị trấn VQ, huyện BQ, thấy rằng:

Năm 1993, ông HVS được UBND huyện BQ cấp 01 mảnh đất làm nhà ở tại tổ 3 khu phố 3 (hiện nay là tổ 4), thị trấn VQ, huyện BQ theo quyết định số 234/QĐ-UB ngày 22/01/1993, có diện tích là 10m x 30m = 300m2 (Quyết định không thể hiện hình thửa của thửa đất được cấp, không giao rõ ranh giới trên thực địa). Sau khi được UBND huyện BQ cấp đất, ông S đã dựng ngôi nhà gỗ ba gian lợp ngói để ở.

Năm 2000, thực hiện Quyết định số 1475/QĐ-UB ngày 30/6/2000 của UBND tỉnh Hà Giang về việc thu hồi đất và giao cho UBND huyện BQ xây dựng Sân vận động huyện BQ, tỉnh Hà Giang (trong Quyết định có thực hiện thu hồi đất đối với 07 hộ gia đình, trong đó không có hộ ông HVS). Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện do không đủ diện tích nên huyện BQ có chủ trương xây dựng khu dân cư mới nên đã thực hiện rà soát, thu hồi bổ sung thêm một số hộ gia đình tại khu vực liền kề thuộc Tổ 3, Khu phố số 3 (nay là Tổ 4), thị trấn VQ. Quá trình rà soát đã thực hiện thu hồi đất bổ sung đối với 26 hộ gia đình (trong đó có hộ ông HVS – Thời điểm này ông HVS đang cho cháu gái là bà HTS1 mượn và ở nhờ nhưng không làm văn bản ủy quyền cho bà S), đồng thời để đảm bảo ổn định dân cư, giải quyết chỗ ở cho người bị thu hồi đất nên UBND huyện BQ đã quy hoạch, cấp 21 ô đất tái định cư cho các hộ bị thu hồi đất sang vị trí mới tại khu đất phía sau Trường Tiểu học NC (hiện nay thuộc Tổ 3), thị trấn VQ. Thời điểm rà soát thu hồi và cấp đất tái định cư được thực hiện đồng thời với việc hoàn thiện hồ sơ thu hồi đất để kịp thời thực hiện dự án và ổn định nơi ở mới cho người dân, vì vậy việc cấp đất tái định cư được thực hiện trước thời điểm có quyết định thu hồi đất bổ sung. Trong thời điểm đó bà HTS1 (là đại diện hộ đang sử dụng đất của ông S) được cấp 01 ô đất tái định cư tại vị trí quy hoạch ô số 11, diện tích 125m2. Nội dung này được thể hiện trong các tài liệu gồm: Biên bản giao đất thổ cư ngày 01/7/2002 giữa các ngành chức năng và bà HTS1 (có chữ ký xác nhận của bà S); Đơn đăng ký cấp Quyền sử dụng đất ngày 11/6/2003 của hộ bà HTS1 có ghi “Nguồn gốc sử dụng đất: Đất được huyện cấp đền bù di chuyển làm sân vận động” (có chữ ký xác nhận của bà S); Quyết định số 1651/QĐ-UB ngày 22/7/2003 của UBND huyện BQ về việc cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình bà HTS1, có ghi: “Nguồn gốc sử dụng đất: Huyện xét cấp năm 2002 theo quy hoạch (ô đất số 11) thuộc hộ di chuyển xây dựng sân vận động trung tâm huyện”; Quyết định số 2858/QĐ-UBND ngày 14/11/2007 của UBND huyện BQ về việc thu, nộp tiền cấp đất tái định cư lần 01, đối với các hộ trong khu quy hoạch dân cư Tổ dân phố số 3, thị trấn VQ vào ngân sách Nhà nước có ghi phần diện tích đất ông HVS được cấp tái định cư theo Quyết định số 1651/QĐ-UB ngày 22/7/2003.

Năm 2004, UBND huyện ban hành Quyết định thu hồi đất, tài sản trên đất đối với các hộ để xây dựng khu dân cư mới theo Quyết định số 2480/QĐ-UB ngày 21/10/2004. Trong quyết định này, hộ gia đình ông HVS có đất bị thu hồi là thửa số 76, với tổng diện tích bị thu hồi là 191m2; tổng giá trị bồi thường cho gia đình ông HVS là 81.917.200đồng (trong đó giá trị đất 68.760.000đồng, tài sản trên đất 19.705.000đồng) được xác định trong Quyết định số 2653/QĐ-UBND ngày 17/10/2007 của UBND huyện BQ.

Quá trình giải quyết công tác bồi thường và thực hiện tái định cư cho các hộ dân khi bị thu hồi đất để thực hiện quy hoạch khu dân cư mới, UBND huyện đã tổ chức họp lấy ý kiến người dân và thống nhất phương án đền bù dự án quy hoạch khu dân cư tại Khu phố số 3, Tổ 3, thị trấn VQ thể hiện tại Thông báo số 33/TB-UB ngày 16/3/2005 của UBND huyện BQ, trong đó hộ ông HVS chỉ được bồi thường 01 ô đất tái định cư (là ô số 11 đã cấp năm 2003 mang tên bà HTS1 – là cháu gái ông S, người đại diện sử dụng đất thời điểm đó); đồng thời giá trị đất tái định cư được tính để xác định giá trị bồi thường là 50.000.000đồng/01 ô đất (có diện tích từ 80 đến 125m2), trường hợp các hộ có nguyện vọng được tái định cư tại chỗ (tại vị trí quy hoạch khu dân cư, không chuyển sang vị trí tái định cư tại khu vực Trường Tiểu học NC) thì phải hoàn trả lại ô đất tái định cư đã được cấp năm 2002, 2003 hoặc hoàn trả số tiền tái định cư là 50.000.000đồng.

Đến tháng 11/2007, ông HVS có đơn đề nghị gửi UBND huyện và HĐĐB, GPMB huyện BQ về nguyện vọng được tái định cư tại chỗ, UBND huyện và HĐĐB, GPMB huyện BQ đã bố trí cấp bổ sung ô đất số 86, thuộc dãy số V trong khu quy hoạch dân cư mới với diện tích 110m2 với giá trị được tính là 39.600.000đồng. HĐĐB, GPMB huyện BQ đã có Công văn số 112/CV-HĐĐB ngày 24/11/2007 trả lời đơn đề nghị của ông HVS. Cùng thời điểm này, ông HVS đã đến HĐĐB, GPMB huyện để nhận tiền đền bù và nộp tiền tái định cư đối phần diện tích được cấp, trong đó:

Tổng số tiền được đền bù khi bị thu hồi đất là: 81.917.200 đồng.

Tổng số tiền hộ gia đình đã nộp là: 89.600.000đồng, trong đó: Tiền Tái định cư là 50.000.000 đồng (ô đất số 11 khu tái định cư sau Trường Tiểu học NC) và tiền ô đất theo quy hoạch ô số 86 là 39.600.000 đồng.

Tổng số tiền chênh lệch ông HVS phải nộp thêm ngoài tiền đền bù về đất là 7.682.800 đồng.

Nội dung trên được thể hiện tại phiếu chi số 398 ngày 19/11/2007 và phiếu thu số 137 ngày 19/11/2007 của HĐĐB, GPMB huyện. Phiếu thu và phiếu chi ghi tên người thực hiện là HTS1, người ký là ông HVS.

Ngày 23/01/2008, UBND huyện BQ đã ban hành Quyết định số 384/QĐ-UBND về việc cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình mang tên bà HTS1 đối với ô đất số 86 theo quy hoạch; GCNQSDĐ được cấp mang số hiệu AK 419244. Như vậy tính đến ngày 23/01/2008, UBND huyện BQ đã hoàn thành việc giải quyết nội dung liên quan đến việc bồi thường khi thu hồi đất đối với hộ gia đình ông HVS để thực hiện dự án quy hoạch khu dân cư mới tại Tổ 3, Khu phố số 3, thị trấn VQ. Sau khi giải quyết các nội dung trên, ông HVS không có đơn đề nghị gì thêm đối với nội dung giải quyết của UBND huyện BQ, tỉnh Hà Giang.

Đến ngày 08/7/2015, bà HTS1 đã làm thủ tục chuyển nhượng ô đất số 86 được cấp trong khu quy hoạch dân cư mới nêu trên cho con trai, con dâu ông HVS là anh HVT và chị VTKH (Hợp đồng số 324/02/2015-HĐCNQSDĐ). Ngày 16/7/2015, anh HVT và vợ là chị VTKH được UBND huyện BQ cấp GCNQSDĐ số BT 950576 theo hợp đồng chuyển nhượng nêu trên.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm cũng chưa xem xét đến các nội dung: Bà HTS1 không có đất bị thu hồi tại khu vực quy hoạch thu hồi đất làm Sân vận động huyện BQ cũng như không có đất bị thu hồi để thực hiện dự án quy hoạch khu dân cư mới tại khu vực Tổ 3, khu phố số 3, thị trấn VQ. Mặt khác trong nhiều tài liệu liên quan đến việc thu hồi đất của ông HVS đều thể hiện bà HTS1 là người có liên quan (người đang sử dụng đất thực tế đối với vị trí đất mang tên ông HVS); đồng thời bà HTS1 hoàn toàn biết rõ phần diện tích đất Nhà nước thu hồi mà cá nhân bà sử dụng là đất do bà ở nhờ (mượn) của ông HVS. Quá trình bàn giao đất tại thực địa đối với ô đất số 11 nêu trên có ghi rõ đối tượng là: “giao đất đền bù” có chữ ký xác nhận của cá nhân bà HTS1; Đơn đăng ký cấp GCNQSDĐ của cá nhân bà S cũng ghi rõ nguồn gốc sử dụng đất là: “đất được huyện đền bù, di chuyển làm Sân vận động” do vậy bà HTS1 hoàn toàn có thể nhận thức được phần diện tích đất được giao tại ô đất tái định cư số 11 là liên quan đến phần diện tích đất thu hồi của ông HVS. Như vậy, UBND huyện BQ đã thực hiện xong việc hỗ trợ tái định cư cho hộ ông HVS.

Việc bà HTS1 cho rằng cá nhân bà là Giáo viên có quá trình công tác và cống hiến tại huyện BQ nên được xem xét cấp đất vào năm 2003, bà đã làm đầy đủ thủ tục tại cơ quan có thẩm quyền, nộp phí địa chính. Tuy nhiên, bà S không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh; bên cạnh đó theo danh sách các hộ là cán bộ, công chức, viên chức được cấp đất giai đoạn 1998 – 2002 trên địa bàn huyện BQ do UBND huyện cung cấp thì không có tên bà HTS1. Do đó, nội dung trình bày của bà S là không có căn cứ.

Như vậy, kể từ khi UBND huyện BQ, tỉnh Hà Giang ban hành Quyết định số 384/QĐ-UBND ngày 23/01/2008 về việc cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình ông S mang tên bà HTS1 đối với ô đất số 86 theo quy hoạch; ông S không có đơn đề nghị gì thêm đối với nội dung giải quyết của UBND huyện BQ. Tuy nhiên đến năm 2017, ông S lại khiếu nại và đã được UBND huyện BQ trả lời không chấp nhận yêu cầu của ông S. Vì vậy, với nội dung yêu cầu khởi kiện của ông S, Tòa án cấp sơ thẩm phải xác định đây là vụ án hành chính để xem xét điều kiện thụ lý theo quy định của Luật Tố tụng hành chính mới đúng. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định nội dung yêu cầu khởi kiện của ông S là vụ án kiện đòi tài sản là sai quan hệ pháp luật phải giải quyết, sai tư cách người tham gia tố tụng, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, vì giữa UBND huyện BQ và ông S không có quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Do việc xác định sai quan hệ pháp luật nên việc giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là không chính xác.

[2.2] Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử cấp phúc thấm thấy: Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Vì vậy, cần chấp nhận kháng cáo của UBND huyện BQ, tuyên hủy Bản án dân sự sơ thẩm nêu trên và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

[2.3] Về tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm, chi phí thẩm định, định giá tài sản: Sẽ được xem xét khi giải quyết lại vụ án.

[2.4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị đơn được chấp nhận nên bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[Nguồn: Bản án số 381/2023/DS-PT ngày 7/8/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI]

Xem file đính kèm toàn văn Bản án số: 381/2023/DS-PT 

………………….

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan