
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Phần đất có diện tích 1.037,5m2 (đo thực tế là 682,6m2, đã trừ phần diện tích lối đi và đất mộ) và hai căn nhà cùng các công trình kiến trúc trên đất thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ C2, khu phố Thạnh L, phường An T, thị xã Thuận A, tỉnh Bình Dương thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình ông Nguyễn Văn T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 087495 cấp ngày 01/12/2004.
[2] Ngày 30/7/2010, tại Phòng Công chứng số 2, tỉnh Bình Dương, hộ gia đình ông T gồm vợ chồng ông T cùng các con cháu là ông Nguyễn Văn L3, bà Nguyễn Thị P, anh Nguyễn Tùng L5 đã ký Hợp đồng ủy quyền cho bà Nguyễn Thị L2 (con của ông T) được quyền nhân danh họ thực hiện việc chuyển nhượng, thế chấp quyền sử dụng diện tích 1.037,5m2 đất nêu trên.
[3] Trên cơ sở Hợp đồng ủy quyền, ngày 14/3/2011, tại Phòng Công chứng số 2, tỉnh Bình Dương, bà L2 ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Huy L với giá 800.000.000 đồng. Ngày 22/6/2012, ông L được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 682,6m2 (đã trừ diện tích thuộc hành lang đường thủy, lối đi và đất mộ). Sau đó, ông L đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn T2 (em vợ của ông L) 295,2m2 đất, chuyển nhượng cho bà Nguyễn [3] Trên cơ sở Hợp đồng ủy quyền, ngày 14/3/2011, tại Phòng Công chứng số 2, tỉnh Bình Dương, bà L2 ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Huy L với giá 800.000.000 đồng. Ngày 22/6/2012, ông L được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 682,6m2 (đã trừ diện tích thuộc hành lang đường thủy, lối đi và đất mộ). Sau đó, ông L đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn T2 (em vợ của ông L) 295,2m2 đất, chuyển nhượng cho bà Nguyễn
[3] Ông T và bà L2 cho rằng năm 2011, bà L2 vay của ông L 800.000. 000 đồng, lãi suất vay 5%/tháng và buộc phải ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất nêu trên cho ông L để đảm bảo việc trả nợ; khi bà L2 trả hết nợ, hai bên sẽ hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, do bà L2 không có tiền trả nợ, ông L đã làm thủ tục đăng ký sang tên quyền sử dụng diện tích đất nêu trên. Ông L không thừa nhận việc cho bà L2 vay tiền mà cho rằng bà L2 đã chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 16 bao gồm cả nhà và công trình kiến trúc trên đất.
[4] Theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 09/DS-ST ngày 13/01/2012 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận A, tỉnh Bình Dương thì ông T và bà L2 phải thanh toán cho bà Lê Thị Thanh T1 số tiền 259.200.000 đồng. Do ông T, bà L2 không trả tiền nên bà T1 đã có đơn xin ngăn chặn việc chuyển nhượng thửa đất số 16 của hộ gia đình ông T.
Tại Công văn số 141/THA ngày 11/4/2012, Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận A, tỉnh Bình Dương đã đề nghị tạm dừng việc xác nhận, cho đăng ký giao dịch liên quan đến thửa đất số 16 nêu trên. Bà T1 xác nhận ông L đã thoả thuận trả nợ thay cho ông T, bà L2, bằng cách ông L chuyển nhượng 100m2 đất thuộc diện tích 1.037,5m2 thửa đất số 16 cho bà Nguyễn Thị Kim A để lấy tiền trả cho bà 259.200.000 đồng và ông L cũng thừa nhận việc này. Như vậy, việc ông L nhận chuyển nhượng đất từ bà L2, nhưng sau đó lại chấp nhận chuyển nhượng 100m2 đất trong thửa đất số 16 cho bà Kim A để trả nợ cho bà T1 thay cho ông T, bà L2 là không phù hợp với thực tế.
[5] Mặt khác, nội dung Hợp đồng ủy quyền ngày 30/7/2010, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/3/2011 nêu trên đều không thể hiện ý chí của gia đình ông T về việc định đoạt các căn nhà và các công trình kiến trúc trên thửa đất số 16. Hơn nữa, theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 2 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/3/2011 thì ông L thanh toán cho bà L2 một lần bằng tiền mặt ngay sau khi hợp đồng này được công chứng; việc thanh toán số tiền nêu trên do hai bên tự thực hiện và chịu trách nhiệm trước pháp luật. Do đó, cần phải yêu cầu ông L cung cấp chứng cứ về việc đã trả tiền mua nhà đất để từ đó xác định Hợp đồng chuyển nhượng giữa bà L2 (đại diện theo uỷ quyền của hộ gia đình ông T) với ông L là thật hay là hợp đồng giả tạo nhằm che giấu giao dịch khác.
[6] Tòa án cấp sơ thẩm xác định Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng ngày 14/3/2011 bị vô hiệu một phần đối với phần diện tích 558,7m2 (trên đất có nhà và công trình kiến trúc khác), còn Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất này có hiệu lực pháp luật, từ đó không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T về việc tuyên bố vô hiệu các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà L2 (đại diện theo uỷ quyền của hộ gia đình ông T) với ông L, giữa vợ chồng ông L với bà Kim A, giữa vợ chồng ông L với ông T2 và Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông L với bà N1 là đều chưa đủ căn cứ vững chắc.
[Nguồn: Quyết định GĐT số 47/2024/DS-GĐT ngày 14/8/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO]
Xem file đính kèm toàn văn Quyết định GĐT số: 47/2024/DS-GĐT
………………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn