Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Không chấp nhận yêu cầu thanh toán tiền hứa thưởng vì không có tài liệu, chứng cứ chứng minh việc thực hiện công việc theo như thỏa thuận hứa thưởng

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Không chấp nhận yêu cầu thanh toán tiền hứa thưởng vì không có tài liệu, chứng cứ chứng minh việc thực hiện công việc theo như thỏa thuận hứa thưởng

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Nguyễn Thị M kháng cáo, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện B kháng nghị bản án. Do nội dung kháng cáo và nội dung kháng nghị giống nhau nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét cùng lúc kháng cáo và kháng nghị.

Về nội dung: Bà Nguyễn Thị M có phần đất diện tích 7.700m² bị ảnh hưởng bởi dự án Khu tái định cư Sing – Việt. Ủy ban nhân dân huyện B đã ban hành Quyết định số 691/QĐ-UBND ngày 07/02/2015 bồi thường, hỗ trợ cho bà M số tiền 427.350.000 đồng nhưng bà M không đồng ý nên ngày 05/6/2015 và ngày 04/01/2016 bà M làm giấy ủy quyền để ông Nguyễn Ngọc T thay mặt bà M thực hiện việc khiếu nại và khởi kiện hành chính đối với quyết định bồi thường nêu trên. Ông T đã thực hiện ủy quyền của bà M khởi kiện vụ án hành chính đối với Quyết định số 691/QĐ-UBND ngày 07/02/2015 nhưng bị bác yêu cầu khởi kiện. Qúa trình cấp phúc thẩm giải quyết vụ án, bà M rút đơn khởi kiện vụ án hành chính.

Ngày 29/3/2018, ông T và bà M ký Văn bản thỏa thuận về việc hứa thưởng với nội dung: Bà M không đồng ý với Quyết định bồi thường số 691/QĐ-UBND ngày 07/02/2015 nên bà M ủy quyền cho ông T liên hệ với cơ quan có thẩm quyền xem xét lại mức chi phí bồi thường. Sau ngày lập văn bản nêu trên, bà M được bồi thường, hỗ trợ bổ sung thêm hai lần với số tiền 800.800.000 đồng và 1.047.200.000 đồng.

[1] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị M và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Sau khi được bà Nguyễn Thị M ủy quyền, ông Nguyễn Ngọc T đã đại diện cho bà M khiếu nại quyết định bồi thường tại Ủy ban nhân dân huyện B nhưng không được công nhận toàn bộ nội dung khiếu nại. Sau đó, ông T đại diện bà M khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định bồi thường nhưng bị bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện, vụ án hành chính này sau đó bà M rút đơn khởi kiện tại cấp phúc thẩm.

[1.1] Xét Văn bản thỏa thuận hứa thưởng ngày 29/3/2018 có nội dung bà M không đồng ý với quyết định bồi thường, hỗ trợ nên đã ủy quyền cho ông T liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để xem xét lại mức chi phí bồi thường, trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền xem xét lại mức chi phí bồi thường từ 2.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng thì bà M và ông T chia đôi số tiền nêu trên, nếu từ 5.000.000.000 đồng trở lên thì bà M nhận 3.000.000.000 đồng hoặc 3.500.000.000 đồng, số tiền còn lại ông T hưởng. Hội đồng xét xử xét văn bản thỏa thuận hứa thưởng được lập sau ngày xảy ra các tình tiết khiếu nại Ủy ban và khởi kiện hành chính tại Tòa án, hợp đồng hứa thưởng nêu rõ sau khi ký văn bản này, những thỏa thuận trước đây giữa hai bên không còn hiệu lực. Theo nội dung văn bản hứa thưởng, ông T phải liên hệ cơ quan có thẩm quyền để xem xét lại chi phí bồi thường cho bà M.

[1.2] Như vậy, vấn đề Hội đồng xét xử cần làm rõ là sau khi ký thỏa thuận hứa thưởng, ông T đã thực hiện công việc như thế nào để được chia đôi số tiền bồi thường với bà M. Ông T khởi kiện yêu cầu chia ½ tiền bồi thường theo hợp đồng hứa thưởng nên theo quy định tại Khoản 1 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự, nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp thuộc về ông T. Tuy nhiên, hồ sơ vụ án không có tài liệu chứng minh ông T liên hệ trực tiếp hoặc gửi đơn thư khiếu nại yêu cầu tăng mức bồi thường cho bà M sau khi đã khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định bồi thường. Ông T không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh ông có thực hiện công việc theo như thỏa thuận hứa thưởng, đồng thời, ông không chứng minh được kể từ sau ngày lập hợp đồng hứa thưởng ông đã liên hệ hoặc khiếu nại với cơ quan có thẩm quyền để tác động tích cực, đúng pháp luật đến cơ quan bồi thường để yêu cầu xem xét tăng mức bồi thường cho bà M.

Tại Văn bản số 2231/BTT ngày 24/5/2021 của Ban bồi thường giải phóng mặt bằng huyện B có nội dung: “Việc tăng tiền bồi thường đối với bà M là do trên cơ sở đề xuất của Hội đồng Thẩm định Bồi thường thành phố (nay là Ban chỉ đạo bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thành phố) và Sở Tư pháp mà không phải do ông T, bà M khiếu nại đấu tranh đòi quyền lợi mới được chấp nhận”.

[1.3] Quá trình cấp phúc thẩm thụ lý vụ án, dù đã ra Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ nhưng ông T không cung cấp được tài liệu chứng minh cho yêu cầu khởi kiện. Đồng thời, cấp phúc thẩm tiến hành xác minh tại Ban bồi thường giải phóng mặt bằng huyện B, kết quả xác minh như sau: “Ban bồi thường giải phóng mặt bằng huyện B không nhận được đơn khiếu nại của ông T liên quan đến hồ sơ bồi thường của bà M. Ông T có liên hệ với Ban bồi thường để trao đổi về hồ sơ khởi kiện, sau khi bà M rút khởi kiện, ông T liên hệ Ban bồi thường để yêu cầu ngưng chi trả tiền bồi thường cho bà M. Có 18 trường hợp khiếu nại về tiền bồi thường nhưng không có tên ông T, việc Ủy ban xem xét lại mức hỗ trợ không phải do ông T gửi đơn khiếu nại”. Như vậy, các lần xác minh cho thấy ông T không có thực hiện việc liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để yêu cầu tăng mức bồi thường cho bà M.

Bà M cho rằng ông T nhiều lần đe dọa yêu cầu bà ủy quyền cho ông T nhận tiền bồi thường nên bà hủy thỏa thuận hứa thưởng. Hội đồng xét xử xét lời trình bày này không có căn cứ, và văn bản hủy hứa thưởng cũng không được xem xét. Tuy nhiên, hồ sơ vụ án thể hiện trước đây ông T đã từng khởi kiện bà

M yêu cầu chia tiền bồi thường dù bà M chưa nhận đủ mức chi phí bồi thường như các bên đã thỏa thuận tại văn bản hứa thưởng.

[1.4] Kháng cáo của bà M không đồng ý trả thưởng cho ông T là không trái với Điều 570 Bộ luật dân sự quy định người đã hứa thưởng phải trả thưởng cho người đã thực hiện công việc theo yêu câu của người hứa thưởng bởi lẽ ông T không thực hiện đúng công việc như bà M yêu cầu. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà M.

Ghi nhận bà M không yêu cầu ông T hoàn trả cho bà số tiền đã ứng trước cho ông T là 14.000.000 đồng.

[2] Đối với kháng nghị của Viện kiểm sát cho rằng cấp sơ thẩm buộc bà M trả tiền cho ông T trong khi chưa xác minh, thu thập đầy đủ và đánh giá chứng cứ làm ảnh hưởng quyền lợi bà M. Vấn đề này cấp phúc thẩm đã xác minh, thu thập chứng cứ đủ và đã chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà M nên kháng nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Từ những nhận định trên, nhận thấy có căn cứ chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện B, chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị M, sửa bản bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc T.

[4] Về án phí phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên đương sự kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm. Đối với ông Nguyễn Ngọc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tương ứng với yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận, tuy nhiên bà M tự nguyện chịu án phí thay ông T.

[NGUỒN: Bản án số 202/2022/DS-PT NGÀY 27/4/2022 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]

LINK PDF: Bản án số 202/2022/DS-PT

………………….

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan