
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 272, 273 và 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án: nguyên đơn bà Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Huỳnh Thị H1 trả lại diện tích đất 73,7m², thuộc một phần thửa đất số 360, tờ bản đồ số 42, tọa lạc tại ấp C, xã H, tỉnh Tây Ninh. Theo trình bày của nguyên đơn, phần đất tranh chấp có nguồn gốc do cha mẹ bà H khai phá từ năm 1975 và cho tặng lại cho bà H vào năm 1990, việc cho tặng không lập thành văn bản. Sau khi được cho đất, bà H có sử dụng đất một thời gian, sau đó cho người khác ở nhờ rồi để đất trống. Đến năm 2023, khi bà H làm thủ tục kê khai đăng ký quyền sử dụng đất thì phát hiện bà H1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất nêu trên nên phát sinh tranh chấp và khởi kiện yêu cầu trả lại đất. Bị đơn bà Huỳnh Thị H1 không chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho rằng bà H1 là người trực tiếp kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất, đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2009, hiện đang quản lý, sử dụng ổn định phần đất tranh chấp. Tòa án cấp sơ thẩm đã không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H nên bà H làm đơn kháng cáo.
[3] Về nội dung và phạm vi kháng cáo: bà H cho rằng, Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét đầy đủ chứng cứ, tình tiết vụ án; các bên đều thừa nhận nguồn gốc đất là của bà H; không có chứng cứ chứng minh bà H đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác; kết luận giám định xác định chữ ký, chữ viết trong giấy chuyển nhượng đất không phải của bà H, Hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H1 có mâu thuẫn, không đúng thực tế sử dụng đất nên phần diện tích đất tranh chấp là của bà H.
[4] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H thấy rằng:
[4.1] Về căn cứ xác lập quyền sử dụng đất của nguyên đơn: Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, bà H cho rằng quyền sử dụng đất của mình phát sinh từ việc cha mẹ cho tặng năm 1990. Tuy nhiên, việc cho tặng này không được lập thành văn bản; không được đăng ký kê khai theo quy định của pháp luật đất đai; không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh việc Nhà nước đã công nhận quyền sử dụng đất cho bà H. Bà H không chứng minh được việc mình quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp một cách ổn định, liên tục, công khai trong thời gian dài. Từ sau khi cho người khác ở nhờ, bà H không trực tiếp sử dụng đất và cũng không có biện pháp quản lý, bảo vệ quyền sử dụng đất đối với phần đất này. Theo quy định của pháp luật đất đai, quyền sử dụng đất chỉ được Nhà nước công nhận thông qua việc đăng ký. Do đó, việc bà H chỉ trình bày về nguồn gốc đất mà không có chứng cứ chứng minh quyền sử dụng đất hợp pháp thì không đủ căn cứ để được Tòa án chấp nhận yêu cầu đòi lại đất.
[4.2] Theo mảnh Trích lục bản đồ địa chính số 8931/TL-ĐC ngày 23/8/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T – Chi nhánh T3 thì phần diện tích đất tranh chấp 73.7m2 thuộc một phần thửa đất số 360 ở hướng Bắc, không phải toàn bộ thửa đất số 360. Bà H cho rằng toàn bộ phần diện tích đất của bà H là 15m x 10m, bà H đã chuyển nhượng 7,5m x 10m, còn lại 7,5m x 10m bị bà H1 lấn chiếm. Tuy nhiên bà H không xuất trình chứng cứ thể hiện toàn bộ phần diện tích đất 15m x 10m ở vị trí nào. Mặt khác, những người dân địa phương gồm ông Nguyễn Văn C – Trưởng ấp, ông Nguyễn Thành T2, ông Lê Văn H3, ông Trịnh Văn X trình bày phần đất tranh chấp do bà H1 sử dụng, bà H không còn phần đất nào giáp với đất của bà H1. Bà H cũng xác định khi bà H1 làm hàng rào bao quanh phần đất tranh chấp bà H biết nhưng cũng không có tranh chấp hay khiếu nại gì. Như vậy, có cơ sở xác định bà H1 sử dụng đất ổn định từ khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đến nay, việc sử dụng phần đất tranh chấp có ranh giới cụ thể, rõ ràng.
[4.3] Về căn cứ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Huỳnh Thị H1: Đối với quyền sử dụng đất của bà Huỳnh Thị H1, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy, phần đất tranh chấp hiện thuộc thửa đất số 360, tờ bản đồ số 42 đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Huỳnh Thị H1 vào năm 2009 và được cấp lại vào năm 2023. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H1 được thực hiện trên cơ sở bà H1 là người trực tiếp kê khai đăng ký quyền sử dụng đất và đang quản lý, sử dụng thực tế, ranh giới rõ ràng; tại thời điểm kê khai, đăng ký và cấp Giấy chứng nhận, không có tranh chấp; việc sử dụng đất của bà H1 được chính quyền địa phương xác nhận theo quy định của pháp luật đất đai. Mặc dù quá trình nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trước đây của bà H1 còn có những hạn chế nhất định về hình thức giao dịch, tuy nhiên quyền sử dụng đất của bà H1 không được xác lập trên cơ sở các giao dịch dân sự này, mà được xác lập thông qua việc Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến nay, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà H1 chưa bị hủy, chưa bị thu hồi, cũng chưa có cơ quan có thẩm quyền nào kết luận việc cấp Giấy chứng nhận này là trái pháp luật.
[5] Từ những nhận định trên, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bà H. Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, bà H cũng không cung cấp chứng cứ mới nên không có cơ sở xem xét kháng cáo của bà H. Tuy nhiên quyết định của bản án sơ thẩm tuyên chưa rõ về đối tượng tranh chấp bị bác yêu cầu nên cần chỉnh sửa bản án sơ thẩm về cách tuyên án.
[6] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của bà H, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[7] Về án phí phúc thẩm: bà H kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí phúc thẩm theo Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[NGUỒN: Bản án số 218/2026/DS-PT NGÀY 10/02/2026 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH]
LINK PDF: Bản án số 218/2026/DS-PT
………………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn