Feel free to go with the truth

Trang chủ / Nghiên cứu học tập / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy và đình chỉ án tranh chấp hợp đồng tín dụng do hết thời hiệu khởi kiện

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy và đình chỉ án tranh chấp hợp đồng tín dụng do hết thời hiệu khởi kiện

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Kháng cáo của bị đơn Công ty X, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức (Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Tây Ninh) được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 272, 273, 276, 278, 279, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung vụ án: V1 khởi kiện yêu cầu Công ty X có nghĩa vụ thanh toán cho V1 số tiền lãi phát sinh từ ngày 01/01/2007 đến 30/12/2008 còn nợ là 499.326.760 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của V1, buộc Công ty X trả cho V1 số tiền 499.326.760 đồng nên Công ty X kháng cáo và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức (Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Tây Ninh) kháng nghị.

[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn Công ty X và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4-Tây Ninh đề nghị Toà án cấp phúc thẩm áp dụng thời hiệu, huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án thấy rằng:

[3.1] Vào ngày 23/3/1992 Công ty X ký kết hợp đồng tín dụng vay tiền của V1, ngày 30/12/2008 Công ty X đã trả hết vốn gốc, ngày 15/5/2009 Ngân hàng N ban hành Quyết định số 1166/QĐ-NHNN về xử lý nợ vay thanh toán công nợ; phần lãi được xử lý xóa nợ đến 31/12/2006; tiền lãi phát sinh giai đoạn 01/01/2007- 30/12/2008 là 499.326.760 đồng theo tính toán của V1. Trong Biên bản làm việc ngày 16/7/2018 giữa V1 – CN6 và đại diện Công ty X xác nhận nội dung xóa lãi đến 31/12/2006; các bên còn ý kiến khác nhau về lãi 2007–2008. Ngân hàng yêu cầu Công ty X thanh toán số tiền lãi phát sinh còn nợ là 499.326.760đồng, trong khi đó Công ty X cho rằng, Công ty đã thanh toán hết số nợ gốc và đã được xoá nợ toàn bộ tiền lãi. Cho đến thời điểm hiện nay nếu còn nợ thì cũng hết thời hiệu khởi kiện nên yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu.

[3.2] Căn cứ vào Quyết định số 1166/QĐ-NHNN ngày 15/5/2009 và Phụ lục về danh sách các doanh nghiệp có nợ vay thanh toán công nợ tại các Ngân hàng thương mại trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh được xoá nợ của Ngân hàng N ban hành kèm theo thì Công ty X được xoá số tiền lãi 3.077.934.236đồng. Theo Điều 3 Quyết định số 1166/QĐ-NHNN ngày 15/5/2009 quy định “Đối với số nợ lãi phát sinh từ số nợ gốc của các trường hợp được xoá nợ tại Điều 1, Điều 2 từ thời điểm 31/12/2006 đến thời điểm Quyết định này có hiệu lực (nếu có); Ngân hàng N chi nhánh thành phố H thực hiện xóa nợ cho các ngân hàng thương mại trên địa bàn theo nguyên tắc nêu tại Điều 1, đồng thời chỉ đạo các ngân hàng thương mại trên địa bàn xóa nợ đối với các doanh nghiệp”. Do số nợ gốc của Công ty X đến thời điểm ngày 31/12/2006 không được xử lý xóa nợ gốc vay thanh toán công nợ theo quy định tại Điều 2 nên Công ty X không phải là đối tượng được áp dụng Điều 3 Quyết định số 1166/QĐ-NHNN ngày 15/5/2009, vì vậy Ngân hàng N đã có Văn bản số 7828/NHNN-TD ngày 09/10/2023 xác định Công ty X được xoá số nợ lãi là phù hợp với Quyết định số 1166/QĐ-NHNN ngày 15/5/2009, vì vậy số nợ lãi của Công ty X được xác định còn lại là 499.326.760đồng. Tuy nhiên Công Bình T2 cho rằng đến thời điểm hiện tại khi Ngân hàng khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện đã hết. Vì vậy, cần xem xét từ thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả lãi từ năm 2008 đến khi nguyên đơn khởi kiện còn thời hiệu khởi kiện hay không.

[3.3] Về pháp luật áp dụng: theo quy định tại Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì thời hiệu tranh chấp về hợp đồng được áp dụng theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 mà không áp dụng văn bản luật có hiệu lực vào thời điểm xác lập giao dịch, vì vậy cần áp dụng Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Vụ án được thụ lý ngày 13/02/2025. Theo hồ sơ, tối thiểu từ năm 2018 các bên đã làm việc về khoản lãi 2007–2008; thậm chí V1 có nhiều văn bản yêu cầu thanh toán trong giai đoạn 2022–2024. Theo quy tắc chung, nếu không có căn cứ bắt đầu lại thời hiệu hoặc loại trừ thời hiệu, thì thời hiệu khởi kiện đến khi thụ lý vụ án đã hết.

[3.4] Về khoản tiền lãi V1 yêu cầu: vào thời điểm năm 2007–2008, V1 còn là doanh nghiệp nhà nước, lãi phát sinh là tài sản nhà nước vì V1 còn là doanh nghiệp nhà nước 100% vốn, tuy nhiên từ ngày 03/7/2009, V1 hoạt động theo Giấy phép của Ngân hàng N với tư cách ngân hàng thương mại cổ phần C; Nhà nước là cổ đông chi phối, nhưng doanh nghiệp là pháp nhân độc lập, các khoản phải thu là tài sản của pháp nhân ngân hàng, không phải là tài sản công. Đối chiếu với quy định của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017 và Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp năm 2014 phân định rõ: nhà nước là chủ sở hữu phần vốn tại doanh nghiệp; tài sản, công nợ và các khoản phải thu do doanh nghiệp tạo lập thuộc pháp nhân doanh nghiệp. Vì vậy, tại thời điểm khởi kiện (2025), “lãi, phí phải thu” là “tài sản của V1” và được hạch toán trên Báo cáo tài chính của ngân hàng, không phải là tài sản công thuộc sở hữu trực tiếp của Nhà nước. Vì vậy không thuộc đối tượng áp dụng Điều 155 Bộ luật Dân sự 2015. Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định việc không áp dụng thời hiệu chỉ áp dụng cho yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu tài sản của chủ sở hữu (ở đây là Nhà nước) đối với tài sản công. Tranh chấp hiện tại là tranh chấp hợp đồng, cụ thể là nghĩa vụ trả lãi, không phải là yêu cầu đòi lại tài sản công thuộc sở hữu trực tiếp của Nhà nước. Vì vậy, không có căn cứ loại trừ thời hiệu theo Điều 155 Bộ luật Dân sự dựa trên lập luận “tài sản công”.

[3.5] Xem xét nội dung Đơn khiếu nại ngày 28/8/2023 của Công ty X thấy rằng: Văn bản mang tên “ĐƠN KHIẾU NẠI” gửi Thống đốc NHNN, nội dung nhằm phản đối yêu cầu trả lãi 499.326.760 đồng của V1 – CN6. Đây không phải là biên bản đối chiếu công nợ hay thư đề nghị thanh toán, với nội dung đơn trình bày chuỗi sự kiện 2018–2023; nhắc lại việc V1 thông báo Công ty còn nợ lãi 499.326.760 đồng; tuy nhiên Công ty X lập luận rằng theo Quyết định 1166/QĐ-NHNN ngày 15/5/2009, khoản lãi sau 31/12/2006 cũng phải được xử lý xóa; vì vậy Công ty “không đồng ý” với yêu cầu trả lãi. Với câu chốt của đơn: “Kính đề nghị Thống đốc Ngân hàng N xem xét giải quyết: Bitex “không phải trả” khoản tiền lãi 499.326.760 đồng tính từ ngày 01/01/2007 đến 30/12/2008…”. Câu chữ thể hiện rõ ràng là ý chí phủ nhận nghĩa vụ, không phải là thừa nhận nghĩa vụ. Đối chiếu Điều 157 Bộ luật Dân sự, văn bản không có nội dung cam kết trả, không đề nghị trả dần, không xác nhận còn nợ để xin miễn, giảm, mà chỉ khiếu nại, tức là đề nghị xác nhận “không phải trả”. Do đó văn bản không làm bắt đầu lại thời hiệu theo Điều 157 Bộ luật Dân sự. Đối với Biên bản làm việc ngày 16/7/2018 cũng không có nội dung thể hiện sự thừa nhận nợ từ phía bị đơn Công ty B, biên bản này cho đến khi phía nguyên đơn tiến hành làm đơn khởi kiện cũng không còn thời hiệu khởi kiện nên cũng không cần xem xét đến văn bản này.

[4] Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy kháng cáo của Công ty X về việc đã hết thời hiệu khởi kiện là có căn cứ, cần được chấp nhận; hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của V1 về khoản lãi 499.326.760 đồng do hết thời hiệu.

[5] Tại phiên toà, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn và chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức (Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Tây Ninh) là có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[6] Về án phí sơ thẩm, phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu.

[Nguồn: Bản án số 36/2025/KDTM-PT ngày 16/9/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH]

Xem file đính kèm toàn văn Bản án số: 36/2025/KDTM-PT

………………….

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan