Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy kết quả đấu giá tài sản do quá trình xử lý nợ xấu của Ngân hàng có nhiều sai phạm

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy kết quả đấu giá tài sản do quá trình xử lý nợ xấu của Ngân hàng có nhiều sai phạm

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Bá N, của người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Nguyễn Văn Q, bà Trần Thị H, của Công ty D3 do ông Nguyễn Anh T đại diện, của Ngân hàng TMCP Q1 được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 272, 273 và 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Đ, Công ty Cổ phần T2, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L, bà Bùi Ngọc D1, Văn phòng công chứng Phạm Thị H2, Văn phòng công chứng Trần Văn C vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt các đương sự này.

[3] Về nội dung vụ án: nguyên đơn ông Nguyễn Bá N khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn Q, bà Trần Thị H và những người có hộ khẩu thường trú, tạm trú trong nhà và đất tọa lạc tại số A, đường H, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An giao nhà và đất mà ông N đã trúng đấu giá vào ngày 28/6/2019 theo Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá ngày 25/7/2019 giữa Ngân hàng TMCP Q1 và ông Nguyễn Bá N theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp Tòa án tuyên hợp đồng mua bán tài sản đấu giá vô hiệu, ông N yêu cầu Ngân hàng TMCP Q1 phải bồi thường giá trị căn nhà và đất theo chứng thư thẩm định giá số: Vc20/12/251/BĐS-LA, ngày 23/12/2020 do Công ty Cổ phần M thẩm định theo yêu cầu của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Long An tại thời điểm tháng 12/2020 là 7.858.178.000đồng để bù trượt giá thị trường cho ông N mua căn nhà tương ứng khác để ở. Bị đơn ông Nguyễn Văn Q bà Trần Thị H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông N, có yêu cầu phản tố, yêu cầu vô hiệu các giao dịch có liên quan đến quyền sử dụng thửa đất số 177 cùng căn nhà gắn liền với đất toạ lạc tại số A, đường H, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An bao gồm hợp đồng thế chấp, hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản, hợp đồng mua bán tài sản đấu giá, đồng thời yêu cầu huỷ kết quả bán đấu giá, huỷ chứng thư thẩm định giá, huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 có yêu cầu độc lập, yêu cầu ông Q, bà H và những người liên quan bàn giao tài sản là quyền sử dụng thửa đất số 177 tờ bản đồ 04 diện tích 256,83m2 và tài sản gắn liền với đất là nhà ở có diện tích xây dựng là 169,5m2 , diện tích sàn 428,5m2 tại địa chỉ số A đường H, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An cho bên trúng đấu giá theo quy định của pháp luật, buộc Công ty TNHH D3 phải tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng số tiền nợ lãi là: 108.621.789đồng. Trong trường hợp Tòa án không công nhận kết quả xử lý nợ của Ngân hàng, tuyên vô hiệu Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá thì Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định của pháp luật buộc Công ty D3 phải trả nợ cho Ngân hàng tính đến ngày 20/7/2023 là: 5.799.896.878đồng, trong đó nợ gốc là 2.960.000.000đồng và nợ lãi là 2.839.896.878đồng, Ngân hàng không có lỗi nên không có nghĩa vụ phải bồi thường cho ông N. Toà án cấp sơ thẩm đã vô hiệu các giao dịch gồm Hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản số 35/2019/HĐDVĐG/NCB-BT/QSDĐ-LONG AN ngày 29/5/2019 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 và Công ty Đ, Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá ngày 25/7/2019 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 và ông Nguyễn Bá N, huỷ kết quả đấu giá ngày 28/6/2019 do Công ty Đ thực hiện. Toà án cấp sơ thẩm đồng thời bác yêu cầu khởi kiện của ông Q bà H yêu cầu vô hiệu hợp đồng thế chấp, cho tiếp tục thực hiện hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 1092/16/HĐTC/101-63 ngày 30/11/2016 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 và ông Nguyễn Văn Q, bà Trần Thị H để đảm bảo khoản vay của Công ty D3. Toà án cấp sơ thẩm tuyên số tiền vay và tiền lãi mà Công ty D3 có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 là 5.956.691.821đồng, đồng thời xử lý hậu quả của việc vô hiệu hợp đồng đấu giá tài sản, theo đó Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 có trách nhiệm trả cho ông N số tiền đã nhận và chịu 2/3 thiệt hại do chênh lệch giá là 6.517.452.000đồng. Ông N, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1, ông Q bà H và Công ty D3 do ông Nguyễn Anh T đại diện cùng kháng cáo.

[4] Xét yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 và ông Nguyễn Bá N yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng dịch vụ đấu giá, hợp đồng mua bán tài sản đấu giá thấy rằng:

[4.1] Theo thỏa thuận tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 1092/16/HĐTC/101-63 ngày 30/11/2016 thì ông Q bà H là người thế chấp tài sản gồm quyền sử dụng thửa đất số 177 tờ bản đồ số 04 cùng căn nhà số A gắn liền với đất để bảo lãnh cho các nghĩa vụ thanh toán nợ của Công ty D3 phát sinh với Ngân hàng theo Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 1146/16/HĐHM/101- 63 cùng ngày 30/11/2016. Điều 361 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Bảo lãnh là việc người thứ ba (say đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình”. Điều 369 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Trong trường hợp đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh, mà bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải đưa tài sản thuộc sở hữu của mình để thanh toán cho bên nhận bảo lãnh”. Do đó, trong trường hợp đến hạn thực hiện nghĩa vụ thì Ngân hàng Q1 phải thông báo cho ông Q bà H về việc Công ty D3 còn nợ Ngân hàng bao nhiêu tiền gốc, tiền lãi và ấn định thời gian cho ông Q bà H trả nợ thay cho Công ty D3, trong trường hợp ông Q bà H không trả được nợ theo thời gian ấn định của Ngân hàng thì Ngân hàng mới được yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà của ông Q bà H theo quy định tại Điều 369 Bộ luật Dân sự năm 2005 về xử lý tài sản của bên bảo lãnh.

[4.2] Về việc thu giữ tài sản: ngày 02/11/2018, Ngân hàng Q1 ra Quyết định số 309/2018/QĐ-TG/NCB thu giữ tài sản bảo đảm là quyền sử dụng thửa đất số 177 cùng tài sản gắn liền với đất, nhưng trong hồ sơ không thể hiện phía Ngân hàng đã giao cho ông Q bà H Quyết định này. Ngày 29/11/2018, Ngân hàng Q1 biên bản thu giữ tài sản thế chấp của ông Q bà H, trong biên bản có chữ ký của bà H nhưng không có chữ ký của ông Q là đồng sở hữu tài sản với bà H.

[4.3] Về việc xác định giá tài sản để đưa ra giá khởi điểm bán đấu giá và quy trình đấu giá:

Theo quy định tại Điều 306 Bộ luật Dân sự năm 2015 về định giá tài sản bảo đảm thì: “Bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có quyền thoả thuận về giá tài sản bảo đảm hoặc định giá tài sản khi xử lý tài sản bảo đảm. Trường hợp không có thỏa thuận thì tài sản được định giá thông qua tổ chức định giá tài sản” tức là nguyên tắc thỏa thuận về giá trị tài sản bảo đảm sẽ được ưu tiên. Tuy nhiên, không có chứng cứ nào thể hiện giữa ông Q, bà H và Ngân hàng Q1 có sự thỏa thuận về giá của tài sản bảo đảm nên việc Ngân hàng Q1 đã tự ý yêu cầu Công ty T2 định giá tài sản bảo đảm mà chưa qua bước thỏa thuận giá với ông Q, bà H là không đúng với quy định của pháp luật.

Trên cơ sở Hợp đồng thẩm định giá tài sản số 02/2019/HĐ-TĐG.MDC ngày 05/4/2019 giữa Ngân hàng Q1 và Công ty T2, thì Công ty T2 đã định giá toàn bộ giá trị tài sản bảo đảm theo Chứng thư thẩm định giá số 15/2019/CT-TĐG.MDC ngày 18/4/2019 là 3.810.467.000đồng. Trong khi đó theo biên bản về việc khảo sát tài sản thi hành án ngày 05/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T thì quyền sử dụng đất và vật kiến trúc gắn liền với đất có giá trị khoảng 7.296.528.325đồng. Mặt khác ngày 19/6/2019 ông Nguyễn Văn Q có đơn khiếu nại gửi đến Ngân hàng Q1 và Công ty Đ để khiếu nại về giá. Chính vì vậy, việc Ngân hàng Q1 thông qua Công ty Đ bán tài sản thông qua đấu giá thành cho ông Nguyễn Bá N với giá là 3.836.000.000đồng theo biên bản đấu giá tài sản ngày 28/6/2019 mà không qua tranh chấp khởi kiện tại Toà án, gây thiệt thòi quyền lợi cho ông Q và bà H.

[4.4] Từ những căn cứ trên, Toà án cấp sơ thẩm với nhận định cho rằng trong quá trình Ngân hàng Q1 xử lý nợ xấu đã có sự vi phạm ngay từ việc lựa chọn thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, sai quy trình thu giữ tài sản bán đấu giá, bán tài sản với giá thấp, không có thỏa thuận với chủ sở hữu tài sản bảo đảm, làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài sản là ông Q, bà H, ảnh hưởng đến việc tiếp quản tài sản mua được sau phiên đấu giá của ông N nên dẫn đến tranh chấp tại Tòa án. Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên vô hiệu hợp đồng mua bán tài sản đấu giá là có căn cứ, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng Q1, của ông Nguyễn Bá N buộc ông Q bà H cùng các thành viên của gia đình ông Q bà H giao nhà đất theo để thực hiện hợp đồng đấu giá tài sản.

[5] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn Q và bà Trần Thị H yêu cầu vô hiệu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 1092/16/HĐTC/101-63 ngày 30/11/2016 thấy rằng:

Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 1092/16/HĐTC/101-63 ngày 30/11/2016 được giao kết giữa Ngân hàng Q1 và ông Q bà H là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cho khoản vay của Công ty D3, được chứng nhận của Văn phòng C4 tỉnh Long An, được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thành phố T vào ngày 30/11/2016. Hợp đồng tuân thủ quy định tại Điều 167 Luật Đất đai năm 2013, khoản 2 Điều 122, Điều 689 Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 35, Điều 37 của Luật Công chứng năm 2006. Ông Q và bà H là chủ sử dụng đất và chủ sở hữu nhà theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất, số phát hành BO 627322, số vào sổ CH01445 do Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Long An cấp ngày 04/10/2013, đồng thời đang trực tiếp sử dụng nhà đất. Ông Q bà H yêu cầu vô hiệu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà là không có căn cứ.

[6] Xét yêu cầu của Công ty D3 yêu cầu tính lại số tiền lãi từ hợp đồng tín dụng thấy rằng:

[6.1] Căn cứ vào Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 1146/16/HĐHM/101-63 ngày 30/11/2016 và khế ước nhận nợ số 01/2016/KUNN/1146/16/HĐHM/101-63 ngày 01/12/2016 thì Ngân hàng Q1 có cho Công ty D3 do ông Q làm đại diện vay số tiền 2.960.000.000đồng với thời hạn vay 12 tháng (từ 01/12/2016 đến 30/11/2017); nhằm mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh, với mức lãi suất 10%/năm cho kỳ vay đầu tiên, lãi suất kỳ tiếp theo được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức lãi suất vay bằng lãi suất tham chiếu dành cho khách hàng cộng 2,5%/năm.

[6.2] Quá trình thực hiện hợp đồng vay, Công ty D3 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ theo hợp đồng, Ngân hàng tiến hành làm việc gửi Thông báo yêu cầu trả nợ số 338/2018/TB-NCB ngày 19/7/2018 và lập Biên bản làm việc với ông Nguyễn Văn Q (đại diện cho Công ty D3), ông Q cam kết đến ngày 20/8/2018 trả nợ cho Ngân hàng nhưng ông Q không thực hiện. Căn cứ vào bảng tổng hợp số tiền vốn gốc và tiền lãi mà Công ty D3 phải thanh toán cho Ngân hàng thì từ ngày 01/12/2016 cho đến ngày 28/02/2017, Ngân hàng tính lãi theo mức lãi suất 10%/năm; từ ngày 01/3/2017 cho đến ngày 30/11/2017, Ngân hàng tính lãi theo mức lãi suất 11%/năm; lãi chậm trả và lãi quá hạn được phía Ngân hàng tính theo mức lãi suất 150% mức lãi suất trong hạn là 16.5%/năm. Vào thời điểm Công ty D3 xác lập giao dịch hợp đồng tín dụng với Ngân hàng thì Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa có hiệu lực, đến ngày 01/01/2017 thì Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật, theo quy định tại Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì lãi suất chậm trả đối với các mức lãi suất phù hợp với Bộ luật Dân sự (dưới 20%/năm) được áp dụng, cho nên việc Ngân hàng tính lãi suất chậm trả với số tiền 90.104.113đồng bên cạnh lãi suất quá hạn là có cơ sở, không bị vô hiệu. Vì vậy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của người đại diện cho Công ty D3 lại tiền lãi cũng như xác định lại mức lãi suất.

[7] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Bá N yêu cầu Ngân hàng bồi thường toàn bộ thiệt hại thấy rằng:

[7.1] Quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất của ông N phát sinh trên cơ sở đấu giá thành từ hợp đồng mua bán tài sản đấu giá ngày 25/7/2019 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 và ông Nguyễn Bá N, hợp đồng đã phát sinh hiệu lực, ông N đã được công nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà ở và tài sản gắn liền với đất, số phát hành CT 117689, vào sổ cấp giấy chứng nhận số GCN: CS 04762 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 24/9/2019. [7.2] Theo nhận định tại mục [4] thì hợp đồng mua bán tài sản đấu giá vô hiệu. Khi hợp đồng đấu giá tài sản vô hiệu các bên phải hoàn trả những gì đã nhận cho nhau, bên có lỗi phải bồi thường. Ngân hàng có trách nhiệm hoàn trả cho ông N số tiền đã nhận là 3.836.000.000đồng, phần thiệt hại là chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất được Toà án cấp sơ thẩm chia lỗi, Ngân hàng chịu 2/3 thiệt hại, ông N chịu 1/3 thiệt hại do ông N có lỗi trong việc không liên hệ với chủ tài sản để nhận tài sản. [7.3] Hội đồng xét xử thấy rằng: các chủ thể của Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá là ông N và Ngân hàng Q1, không có sự tham dự của ông Q và bà H. Việc giao tài sản là nghĩa vụ của bên có tài sản là phía Ngân hàng, Ngân hàng giao tài sản trên cơ sở việc thu giữ tài sản của bên bảo đảm, ông N không có nghĩa vụ phải biết việc thu giữ tài sản của phía Ngân hàng có thành công hay không. Việc Ngân hàng thu giữ tài sản chưa thành công đã mang bán đấu giá là lỗi của Ngân hàng. Trong Biên bản đấu giá tài sản ngày 28/6/2019 cũng thể hiện bên có tài sản đấu giá là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 không phải là ông Q và bà H. Điều 9 Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá ngày 25/7/2019 giữa Ngân hàng Q1 và ông Nguyễn Bá N quy định về phương thức giao nhận tài sản và địa điểm giao tài sản đã thể hiện “Người mua được tài sản đấu giá tự liên hệ với chủ tài sản, người đang quản lý, sử dụng tài sản để nhận tài sản”, về nguyên tắc khi Ngân hàng đã mang tài sản xử lý nợ xấu thì Ngân hàng phải là người quản lý tài sản không phải là ông Q và bà H như giải thích của phía Ngân hàng. Trong biên bản đấu giá tài sản ngày 28/6/2019 có quy định về phương thức giao tài sản đó là: “Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 giao trực tiếp cho người trúng đấu giá với sự chứng kiến của Công ty Đ”, không quy định nghĩa vụ của ông Q bà H, mặt khác ông Q bà H là người có tài sản phải xử lý nợ nên việc thoả thuận giao tài sản giữa ông Q bà H và ông N là việc khó có thể thực hiện được. [7.4] Do Ngân hàng Q1 không thực hiện được nghĩa vụ giao tài sản, có lỗi nên có trách nhiệm bồi thường thiệt hại toàn bộ là đúng theo quy định tại Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Từ đó có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông N, sửa một phần bản án sơ thẩm. [8] Từ những nhận định trên, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng Q1, của Công ty D3, của ông Q bà H do ông T đại diện, có cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông N, sửa một phần bản án sơ thẩm về số tiền bồi thường của Ngân hàng và án phí sơ thẩm cho phù hợp. [9] Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An và Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông N, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng Q1, của Công ty D3, của ông Q bà H do ông T đại diện là có cơ sở và cũng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[10] Các khoản khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực theo quy định của pháp luật.

[11] Về án phí phúc thẩm: ông N kháng cáo được chấp nhận không phải chịu án phí phúc thẩm, Ngân hàng Q1, ông Q bà H và Công ty D3 phải chịu án phí phúc thẩm do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận theo Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, miễn án phí cho ông Q bà H do thuộc đối tượng người cao tuổi theo Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

[Nguồn: Bản án số 214/2024/DS-PT ngày 25/4/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN]

Xem file đính kèm toàn văn Bản án số: 214/2024/DS-PT

———–

Luật sư tại Đà Nẵng

99 Nguyễn Hữu Thọ, Quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế, Thừa Thiên Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

122 Đinh Bộ Lĩnh, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 5, số 11 Ngõ 183, phố Đặng Tiến Đông, phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

Quốc lộ 1A, Khối 11, phường Quỳnh Xuân, Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn  www.tuvanphapluatdanang.com

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage LUẬT SƯ FDVN: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan