
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, nguyên đơn ông Lê Thanh H1 kháng cáo Bản án sơ thẩm. Xét thấy đơn kháng cáo của ông H1 là hợp lệ nên Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình thụ lý giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, một số nguyên đơn và toàn bộ người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có giấy ủy quyền hoặc có đơn xin phép vắng mặt (trừ bà Phạm Thị H vắng mặt không có lý do), nên Tòa án tiếp tục xét xử vụ án theo quy định.
[2] Theo đơn khởi kiện và ý kiến trình bày trong quá trình giải quyết vụ án thì nguyên đơn yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế của bố (cụ T5) gồm thửa đất số 24, tờ bản đồ số 36, diện tích 521,2m² và ngôi nhà cấp 4 gắn liền với thửa đất tại tiểu khu Đ, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình. Hiện tại thửa đất và ngôi nhà đang do bị đơn ông Lê Văn S trực tiếp quản lý, sử dụng.
[3] Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện các bên đương sự khai thống nhất: Sau khi cụ T5 và cụ B ly hôn (năm 1989), đến năm 1992 thì cụ T5 đã mua lại ngôi nhà gỗ hai gian, tọa lạc trên thửa đất số 24, tờ bản đồ số 36 của bà Hồ Thị M2. Quá trình sử dụng cụ T5 đã sửa chữa, xây tường bao quanh, lợp lại mái nhà để ở và cải tạo đất để sử dụng. Năm 2011, vợ chồng ông S bà T4 về sống chung với cụ T5, đến ngày 10/02/2013 cụ T5 chết, sau khi cụ T5 chết thì vợ chồng ông S tiếp tục quản lý, sử dụng nhà và thửa đất cho đến nay. Nội dung này các bên đương sự đều biết và được Tòa án thừa nhận nên không cần phải chứng minh.
[4] Bị đơn, ông Lê Thanh S cho rằng trước khi bố (cụ T5) chết thì bố có viết giấy tặng cho ông S ngôi nhà cấp 4 mà bố đã mua lại của bà M2. Theo ông S thì đó là di chúc của bố để lại tài sản cho ông S. Tuy nhiên, không có cơ sở để khẳng định tờ giấy viết tay do ông S xuất trình là do chính cụ T5 viết ra và thể hiện đúng ý chí nguyện vọng của cụ T5. Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận ý kiến của ông S về
việc cho rằng trước khi chết cụ T5 đã để lại di chúc cho ông S tài sản của cụ T5 là có cơ sở.
[5] Về nguồn gốc thửa đất số 24, tờ bản đồ số 36, tại tiểu khu Đ, thị trấn Đ, huyện T. Hội đồng xét xử thấy rằng:
[5.1] Trước đây, trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Đ và bà M2 còn tồn tại, do vợ chồng ông Đ chưa có nhà ở nên ông Đ đã làm đơn xin cấp đất để xây dựng nhà ở và đã được UBND huyện T giao đất tại Quyết định số: 184/QĐ-UB ngày 09/5/1988 về việc “giao đất xây dựng nhà ở gia đình”, diện tích 374 m², người đứng tên trong quyết định giao đất là ông Hoàng Duy Đ.
Điều 35 Luật đất đai năm 1987 quy định: “… Chỉ được giao đất ở trong khu dân cư cho những hộ chưa có nhà ở;… định mức giao đất cho mỗi hộ không được quá mức quy định cho từng vùng như sau: … c) Miền núi và tây nguyên: 400 m²”.
Như vậy, mặc dù trong quyết định giao đất chỉ ghi tên một mình ông Đ nhưng cần xác định đây là diện tích đất mà Ủy ban nhân dân huyện T đã giao cho vợ chồng ông Đ, bà M để xây dựng nhà ở gia đình theo đúng quy định của Luật đất đai năm 1987, chứ không phải cấp đất riêng cho một mình ông Đ, như ý kiến của ông Đ, bà M2 và ông S đã trình bày.
[5.2] Năm 1992, ông Hoàng Duy Đ và bà Hồ Thị M2 làm thủ tục ly hôn. Tại Biên bản hòa giải của Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa ngày 28/4/1992 ghi nhận sự thỏa thuận ly hôn phân chia tài sản chung của ông Đ và bà M như sau: “….Về tài sản có một ngôi nhà 02 gian lợp tranh (600.000 đồng cả vườn), hai bên thỏa thuận để lại cho chị M2 sử dụng…..”. Căn cứ biên bản này, Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa đã ra Quyết định số 01 ngày 28/4/1992 công nhận thuận tình ly hôn và phân chia tài sản chung của ông Đ, bà M2 phù hợp với biên bản hòa giải tại Tòa án. Như vậy, sau khi ly hôn thì bà M2 được nhận một số tài sản trong đó có cả ngôi nhà gắn liền với thửa đất đã được UBND huyện T, tỉnh Quảng Bình giao để xây dựng nhà ở gia đình.
Nội dung trên cũng phù hợp với “Giấy bán nhà” của bà bà Hồ Thị M2 bán nhà cho ông Lê Văn T5, trên giấy có ghi: “…Tôi đã giao mọi giấy tờ và sơ đồ giao đất cho ông T5 sử dụng…… Trên phần đất của tôi đã giao lại cho ông T5 có một nữa ao cá vì ao đó trước đây anh Đ(chồng cũ của tôi) cùng nhà ông S thuê máy ủi chung – Nay cũng bàn giao cho ông T5 luôn.”. Điều này thể hiện ý chí của bà M2 chuyển nhượng cả nhà và đất, chứ không phải chỉ chuyển nhượng nhà mà không chuyển nhượng đất như ý kiến của ông S và bà M2.
[5.3] Mặt khác, sau khi nhận chuyển nhượng nhà, đất từ bà M2 năm 1992 thì cụ T5 đã trực tiếp sửa chữa nhà, xây tường bao quanh; trực tiếp kê khai đăng ký quyền sử dụng đất tại địa phương, đã được cơ quan chức năng xác định trong số địa chính và bản đồ cấp đất; nộp thuế sử dụng đất đầy đủ; quá trình sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp. Tại Công văn số 15/CV-TNMT ngày 03/11/2015 về việc trả lời công văn của Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T thể hiện: “… Qua kiểm tra hồ sơ, sổ sách, bản đồ địa chính
2003 của thị trấn Đ thì thửa đất số 24, tờ bản đồ 36, diện tích 521,1 m² mang tên chủ sử dụng là ông Lê Văn T5, …”.
[6] Từ các nội dung đã được phân tích ở mục [5] cho thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm nhận định cho rằng: “… sau khi ly hôn bà M2 chỉ được sử dụng, sở hữu ngôi nhà, còn thửa đất là tài sản riêng và thuộc quyền sử dụng của ông Hoàng Duy Đ” và từ nhận định đó, Tòa án sơ thẩm đã Quyết định không chấp nhận yêu cầu chia di sản thừa kế đối với thửa đất của cụ T5 để lại cho các đồng thừa kế (nguyên đơn, bị đơn) đồng thời lại Quyết định giao thửa đất trên (thửa số 24, tờ bản đồ 36, tiểu khu Đ, thị trấn Đ) cho ông Hoàng Duy Đ tiếp tục quản lý, sử dụng, là đánh giá không đúng bản chất sự việc; làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cả nguyên đơn và bị đơn. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án thì ông Hoàng Duy Đ không có yêu cầu độc lập về việc đòi lại thửa đất nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại quyết định giao thửa đất trên cho ông Hoàng Duy Đ là vượt quá yêu cầu khởi kiện.
[7] Theo biên bản thẩm định ngày 23/3/2020 của TAND tỉnh Quảng Bình và biên bản thẩm định ngày 16/12/2021 của TAND huyện Tuyên Hóa thể hiện: Trên mảnh đất thứ 3 (trước đây có ngôi nhà cũ của ông Lê Văn T5 để lại, đã bị phá dỡ) hiện đang có công trình xây dựng của bà Phạm Thị H. Theo lời trình bày của bà Phạm Thị H thì ông S cho bà H thuê đất từ năm 2019 và bà H đã xây dựng trên đó một ngôi nhà ống, mái xuôi diện tích khoảng 7x20m để kinh doanh và hiện nay bà H vẫn sử dụng để kinh doanh. Lời khai này của bà H cũng được ông S xác định là đúng sự thực. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm không đưa bà Phạm Thị H vào tham gia tố tụng với tư cách “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” trong vụ án, là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
[8] Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn có thiếu sót trong việc xử lý tiền tạm ứng chi phí tố tụng như: Tổng số tiền chi phí tố tụng mà ông H1 đã nộp tạm ứng 03 lần là 9.729.000 đồng, nhưng trong bản án chỉ xử lý số tiền 7.729.000 đồng là xem xét chưa hết số tiền mà ông H1 đã nộp.
Đối với số tiền 300.000 đồng mà ông H1 đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm tại biên lai số: AA/2015/0002331 ngày 3/7/2017 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Tuyên Hóa, cũng chưa được xử lý. Trong trường hợp này vì bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã bị Cấp giám đốc thẩm hủy và giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa giải quyết sơ thẩm lại, do đó khi giải quyết sơ thẩm lại vụ án thì Tòa án sơ thẩm cũng phải xem xét để xử lý triệt để số tiền này cho ông H1.
[9] Từ những nội dung đã phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy những sai sót của Tòa án cấp sơ thẩm không thể bổ sung tại phiên tòa phúc thẩm, nên cần chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Thanh H1 để hủy bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2022/DSST ngày 12/7/2022 v/v tranh chấp phân chia di sản của Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[10] Do kháng cáo của ông Lê Thanh H1 được chấp nhận nên ông H1 không phải chịu án phí phúc thẩm, trả lại cho ông H1 số tiền đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa. Nghĩa vụ chịu án phí và chi phí tố tụng khác được xác định lại khi giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[NGUỒN: BẢN ÁN SỐ 12/2023/DS-PT NGÀY 02/3/2023 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH]
LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 12/2023/DS-PT
………………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn