Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy bản án sơ thẩm do Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập chứng cứ đầy đủ để xác định những người thừa kế hợp pháp của người để lại di sản

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy bản án sơ thẩm do Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập chứng cứ đầy đủ để xác định những người thừa kế hợp pháp của người để lại di sản

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Năm 1990, cụ Nguyễn Thị H2 kê khai đăng ký và được UBND thị xã C (nay là thành phố C) cấp giấy chứng nhận QSDĐ với diện tích 20.490m² thuộc các thửa 449, 455, 456, 579, tờ bản đồ số 01, tại ấp Ông M1, xã L, thành phố C. Sau khi cụ H2 chết thì vào ngày 03/3/2000, UBND thành phố C đã cấp đổi giấy chứng nhận QSDĐ cho ông Nguyễn Văn T2 đứng tên cũng với diện tích 20.490m² thuộc thửa 456, 449, 479, 455 nêu trên.

Theo lời trình bày của nguyên đơn thì vào năm 1980 cụ H2 đã cho con trai là ông Nguyễn Văn B phần đất thuộc thửa 449 với diện tích 3.710m² và bà Nguyễn Thị T3 (mẹ ông T2) đã chuyển nhượng cho ông B phần đất với diện tích 1.320m² thuộc thửa 455. Theo nguyên đơn thì phần đất 20.490m² mà cụ H2 được cấp giấy chứng nhận vào năm 1990 và hiện nay là ông T2 đang đứng tên trên giấy chứng nhận bao gồm cả phần đất mà cụ H2 đã cho ông B và cả phần đất bà T3 đã chuyển nhượng cho ông B.

Tại yêu cầu khởi kiện ban đầu, nguyên đơn yêu cầu hủy giấy chứng nhận của ông T2, đề nghị được tách phần diện tích đất 5.030m² thuộc thửa 449, 455 cho ông Nguyễn Văn B và đề nghị được chia di sản thừa kế của cụ H2 với phần đất còn lại có diện tích 15.450m².

[2] Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của bị đơn lại thống nhất xác định theo Bản vẽ diện tích đất là tại các thửa số 1, 2, 3 do ông B và các con ông B quản lý sử dụng, không có tranh chấp; chỉ tranh chấp thửa số 4 diện tích 3.503m² và thửa số 5 diện tích 13.924,9m² do bị đơn đang quản lý sử dụng. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại cho nguyên đơn diện tích đất theo đo đạc tại thửa số 4 và thửa số 5 với diện tích 17.428,7m²; nguyên đơn xác định đây là di sản của cụ H2 để lại.

Hội đồng xét xử nhận thấy, theo Bản vẽ hiện trạng ngày 28/6/2023 của Công ty TNHH MTV T5, tổng diện tích khu đất đo đạc là 31.480,7m², gồm các thửa số 525, 526, 533, 541, 185 được trích đo thành các thửa mang số 1, 2, 3, 4, 5. Theo đó thửa 1 diện tích 6.212m² đất lúa, thừa 2 diện tích 5.896m² đất lúa, thửa 3 diện tích 1.944m² đất lúa, thừa 4 diện tích 3.503,8m² đất ở nông thôn và cây lâu năm, thửa 5 diện tích 13.924,9m² đất lúa. Bản vẽ không thể hiện được các thửa đất số 456, 449, 479, 455 diện tích 20.490m² mà ông T2 được cấp giấy chứng nhận tương ứng với các thửa đất nào trong số các thửa đất 525, 526, 533, 541, 185 cũng như tương ứng với thửa nào trong số các thửa 1,2,3,4,5. Trên bản vẽ không thể hiện được các thửa 4, 5 với diện tích 17.428,7m² mà nguyên đơn đang tranh chấp có thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng của ông T2 hay không? Tổng diện tích các thửa 1,2,3,4,5 là 31.480,7m² trong khi giấy chứng nhận của ông T2 chỉ có tổng diện tích là 20.490m². Nguyên đơn ban đầu xác định di sản của cụ H2 để lại là phần đất có diện tích 15.450m² nhưng tại phiên toà sơ thẩm lại xác định di sản của cụ H2 có diện tích 17.428,7m² mà không lý giải rõ tại sao lại có sự thay đổi diện tích này?

Cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T2 nhưng lại không làm rõ việc bà T3 thừa nhận có bán 1.230m² đất cho ông B và giấy chứng nhận đứng tên ông T2 đang bao gồm cả phần đất này; điều này gây ảnh hưởng đến quyền lợi của ông B.

Năm 1990, cụ H2 kê khai đăng ký và được UBND thị xã C (nay là thành phố C) cấp giấy chứng nhận QSDĐ với diện tích 20.490m² thuộc các thửa 449, 455, 456, 579; sau đó ông T2 là người được đứng tên trên giấy chứng nhận các thửa đất của cụ H2. Ông T2, bà T3 thừa nhận việc bà T3 có chuyển nhượng cho ông B phần đất diện tích 1.230m². Tại phiên tòa sơ thẩm, bà T3 xác định ông B và các con đang quản lý, sử dụng 14.052m² đất. Như vậy, phần đất diện tích 1.230m² có thuộc phần đất mà ông B đang quản lý, sử dụng và có thuộc giấy chứng nhận của cụ H2 (hiện nay là giấy chứng nhận của ông T2) hay không? Cấp sơ thẩm chưa làm rõ di sản của cụ H2 để lại là phần đất nào? có diện tích bao nhiêu? thuộc vị trí nào trên bản về hiện trạng?

[3] Ông Nguyễn Văn B là con ruột của cụ H2, là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ H2; ông H và bà H1 thuộc hàng thừa kế thứ hai của cụ H2 (cháu nội cụ H2) đồng thời là người thừa kế thế vị của ông Đ1 (con cụ H2). Cụ H2 chết không để lại di chúc. Việc ông B, bà H1, ông H không sống chung với cụ H2, không trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cụ H2 không làm mất đi quyền thừa kế của ông B, bà H1, ông H đối với di sản của cụ H2. Ông T2, bà T3 là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, lo mai táng, thờ cúng cụ H2, thờ cúng các con đã chết của cụ H2 cũng như đang trực tiếp sử dụng, canh tác phần đất sẽ được xem xét để tính công sức khi chia di sản thừa kế của cụ H2.

Sau khi cụ H2 chết, ông T2, bà T3 lập biên bản họp thân tộc ngày 12/01/2000 có mặt hai người bác, một người cô trong thân tộc nhưng lại không có những người thừa kế hợp pháp của cụ H2. Những người bác, người cô này không có quyền định đoạt đối với di sản của cụ H2 nhưng lại đứng ra quyết định giao toàn bộ các thửa đất của cụ H2 đang đứng tên trên giấy chứng nhận cho ông T2. UBND thành phố C chỉ căn cứ vào biên bản họp thân tộc này đã thu hồi giấy chứng nhận cấp cho cụ H2 và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới cho hộ gia đình ông T2 mà chưa xác minh làm rõ ý kiến những người thừa kế hợp pháp của cụ H2.

[4] Từ những phân tích nêu trên, nhận thấy việc thu thập chứng cứ chưa được thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được. Do đó, Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[NGUỒN BẢN ÁN SỐ 414/2025/DS-PT NGÀY 06/5/2025 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]

LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 414/2025/DS-PT

………………….

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan