Feel free to go with the truth

Trang chủ / Nghiên cứu học tập / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án vì Tòa sơ thẩm xác định Di chúc không có giá trị pháp lý là đánh giá về chứng cứ không đúng đã dẫn tới việc thu thập chứng cứ và chứng minh không được thực hiện đầy đủ 

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án vì Tòa sơ thẩm xác định Di chúc không có giá trị pháp lý là đánh giá về chứng cứ không đúng đã dẫn tới việc thu thập chứng cứ và chứng minh không được thực hiện đầy đủ 

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; ý kiến trình bày, tranh luận của đương sự và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:\

[1] Về tố tụng:

Kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị C là hợp lệ, trong thời hạn pháp luật quy định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và tiến hành giải quyết vụ án theo trình tự thủ tục phúc thẩm. Đối với các đương sự vắng mặt tại phiên toà: Các đương sự vắng mặt tại phiên toà đã có ý kiến trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị C thì thấy;

[2.1] Về nội dung:

Đối với di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị T5 để lại:

Cụ ông Nguyễn Văn X và cụ bà Nguyễn Thị T5 sống chung với nhau có 06 người con gồm: ông Nguyễn Ngọc M; bà Nguyễn Thị H (chết năm 1960), có chồng đã chết và có hai con, ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị M1; bà Nguyễn Thị P; ông Nguyễn Văn C1 (chết năm 1975, không có vợ, con); bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn Đ1 (chết năm 2010), có vợ Nguyễn Thị C và 02 con chị Nguyễn Thị D, có chồng là Nguyễn Văn P1 và anh Nguyễn Văn Đ). Trong quá trình chung sống, vợ chồng cụ X và cụ T5 tạo dựng được 01 ngôi nhà nậy 3 gian và 01 ngôi nhà nấu làm trên diện tích đất 880m2, thửa đất số 405, tờ bản đồ số 4 (trong đó đất ở lâu dài 200m2, đất vườn 680m2); địa chỉ: xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (nay đội 2, tổ dân phố D, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Năm 1982, cụ Nguyễn Văn X chết không để lại di chúc. Đến năm 1985 cụ T5 và các con họp gia đình bàn bạc, thống nhất chuyển nhượng bán nhà ở, đất ở, đất vườn cho người con bà Nguyễn Thị P, với giá 500.000 đồng. Sau khi chuyển nhượng nhà, đất cho bà P thì ông Nguyễn Văn Đ1 không đồng ý, nên xảy ra tranh chấp. Năm 1992, ông Đ1 tranh chấp quyền sử dụng đất của bố mẹ với bà P, buộc bà P khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 02/1992/DS – ST ngày 17/4/1992 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đã quyết định. Nhà ở cấp 4 và nhà nấu thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị P, diện tích đất thuộc quyền quản lý, sử dụng của cụ Nguyễn Thị T5. Đến năm 1994, cụ T5 được Ủy ban nhân dân huyện Q cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 19253 QSDĐ/641/QĐ-UB, thửa đất số 405, tờ bản đồ số 4, diện tích 880m2; địa chỉ: xã Q, huyện Q (nay là phường Q, thị xã B) mang tên cụ Nguyễn Thị T5.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định đến tại thời điểm năm 1994, tài sản của cụ Nguyễn Thị T5 là thửa đất số 405, tờ bản đồ số 4, diện tích 880m2; địa chỉ: phường Q, thị xã B, nên cụ T5 là người được quyền quản lý, sử dụng thửa đất là có căn cứ.

[2.2] Di chúc về việc định đoạt di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị T5 lập ngày 02/4/1997 và “… Giao lại một ngôi nhà nậy ba gian và một cái nhà nấu lợp ngói, tường xây và toàn bộ nương vườn để con Nguyễn Thị P sở hữu…” Di chúc được Phòng Tư pháp huyện Quảng Trạch công chứng vào ngày 11/4/1997. Tại thời điểm cụ T5 lập di chúc bằng văn bản đánh máy, khi lập di chúc cụ T5 vẫn còn minh mẫn, sáng suốt, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép. Nội dung di chúc rõ ràng, không trái pháp luật và đạo đức xã hội, thể hiện ý chí, nguyện vọng và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của cụ T5 tại thời điểm lập di chúc. Di chúc cụ T5 được cụ T5 điểm chỉ và được trưởng phòng tư pháp huyện Q công chứng vào di chúc là đảm bảo về trình tự, thủ tục, nội dung và phù hợp với quy định tại các Điều 649, 650, 651, 652, 653, 655, 656, 660 Bộ luật Dân sự năm 1995 và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh gia đình thực tế của cụ T5 tại thời điểm công chứng. Vì vậy, Di chúc cụ Nguyễn Thị T5 lập ngày 02/4/1997 là phù hợp với quy định của pháp luật tại thời điểm lập di chúc.
Trong thời gian chung sống cùng cụ T5, bà Nguyễn Thị M1 (cháu của cụ T5 đã làm nhà sinh sống cùng cụ T5 trên thửa đất, bà M1 bố mẹ mất sớm) đã tiến hành kê khai cấp giấy CNQSDĐ. Ngày 29/3/1997, UBND huyện Q cấp giấy CNQSDĐ số phát hành I 906734, thửa đất số 580, tờ bản đồ số 4, diện tích 300m2 (trong đó đất ở 300m2), phần diện tích đất của bà M1 được tách ra từ thửa đất số 405, tờ bản đồ số 4, diện tích 880m2 mang tên cụ T5, các cơ quan có thẩm quyền có văn bản xác định do quá trình cấp giấy CNQSDĐ cho bà M1 trên một phần diện tích đất đã cấp cho cụ T5, nhưng không thu hồi, chỉnh lý giấy CNQSDĐ của cụ Nguyễn Thị T5, nhưng cụ T5 không có ý kiến phản đối gì. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã có văn bản yêu cầu UBND huyện Q và UBND thị xã B cung cấp hồ sơ cấp giấy CNQSDĐ của bà M1, nhưng các cơ quan không cung cấp được, còn bà M1 và các bị đơn có liên quan đến thửa đất trong quá trình giải quyết vụ án đều cố ý vắng mặt, không hợp tác và không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ gì.

Do đó, xác định phần diện tích còn lại của cụ T5 được xác định là 580m2, tại thửa đất số 405, tờ bản đồ số 04 (nay là thửa đất số 771, tờ bản đồ số 8, diện tích 562,5m2). Trên phần diện tích đất còn lại của cụ T5, vợ chồng ông Nguyễn Văn Đ1 đã sinh sống làm nhà thờ, nhà quán bán hàng tạp hóa và một phần đất con ông Đ1 (anh Nguyễn Văn Đ) làm nhà kiên cố để sử dụng sinh sống từ đó đến nay.

[2.3] Ngày 22/01/2010, bà Nguyễn Thị M1 lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 580, tờ bản đồ số 4, diện tích 300m2 (nay là thửa đất số 753, tờ bản đồ số 8, diện tích 377,3m2) cho vợ chồng anh Nguyễn Văn P1, chị Nguyễn Thị D, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà M1 và vợ chồng anh P1, chị D được UBND xã Q chứng thực.
Ngày 17/9/2010, UBND huyện Q cấp giấy CNQSDĐ số phát hành BC 919478, thửa đất số 580, tờ bản đồ số 04, diện tích 300m2, mang tên ông P1, bà D. Vợ chồng anh P1, chị D đã tiến hành làm nhà hai tầng kiên cố và sinh sống trên thửa đất 580, tờ bản đồ số 4, diện tích 300,0m2 từ đó đến nay. Đến năm 2012, hoàn thiện và chỉnh lý bản đồ địa chính, thửa đất của cụ T5 thể hiện tại thửa đất số 771, tờ bản đồ số 8, diện tích 562,5m2, còn thửa đất của vợ chồng chị D, anh P1 được thể hiện tại thửa đất số 753, tờ bản đồ số 8, diện tích 377,3m2.

Do đó, xác định một phần di chúc cụ T5 lập ngày 02/4/1997 có hiệu lực pháp luật và phần di sản còn lại của cụ T5 là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 771, tờ bản đồ số 8, diện tích 562,5m2 (trong đó đất ở 200m2, đất màu 362,5m2), địa chỉ: phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình được chia theo di chúc của cụ.

Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét làm rõ đối với việc ngày 25/7/1999, cụ Nguyễn Thị T5 lập lại di chúc, có nội dung “…Nhà ngói ba gian bán cho con gái là Nguyễn Thị P, bằng tiền 500.000 đồng, con gái tôi đã dỡ năm 1992, nay tiền tôi vẫn chưa nhận. Trong khi mua bán con gái tôi hứa sẽ chăm sóc tôi khi tuổi già đến chết nhưng đã dỡ được nhà thì bỏ tôi không đoái hoài. Bản thân tôi chỉ nhờ vào gia đình con trai là Nguyễn Văn Đ1 và cháu Nguyễn Thị M1 và Nguyễn Thị D trong những ngày còn lại. Diện tích đất vườn tôi được giải quyết quyền sử dụng và sở hữu. Cho cháu Nguyễn Thị M1 (mồ côi cả cha lẫn mẹ) là 200m2 để làm nhà ở; cháu Nguyễn Thị D đã có chồng và 01 con bằng 300m2 để làm nhà ở. Phần còn lại móng nhà tôi giao cho con trai là Nguyễn Văn Đ1 để làm nhà thờ cúng, hương khói trong những ngày dỗ chạp của họ tộc…”.
Di chúc của cụ Nguyễn Thị T5 lập ngày 25/7/1999 do ông trưởng thôn Diên Phúc ghi lại nội dung, có chữ ký của đại diện họ tộc ông Nguyễn Văn D3 và làng xóm bà Nguyễn Xuân T7 ký làm chứng và điểm chỉ của cụ T5. Sau khi cụ T5 chết (năm 2001) di chúc được Chủ tịch UBND xã Q xác nhận ngày 07/9/2012.

Như vậy, theo quy định tại điểm b khoảm 1 Điều 688 và quy định về thừa kế theo di chúc được quy định tại các điều 626, Điều 627, Điều 628, Điều 630, Điều 632, khoản 3 Điều 640, khoản 1,4, 5 Điều 643 thì di chúc trên là hơp pháp và thể hiện rõ ý chí của cụ T5 lập di chúc này để thay thế, hủy bỏ di chúc lập ngày 02/4/1997. Theo quy định của pháp luật thì di chúc này đã có hiệu lực kể từ thời điểm cụ T5 chết.

Nhưng tại bản án sơ thẩm lại có nhận định: “Di chúc của cụ T5 lập ngày 25/7/1999 phần đầu di chúc, không ghi tên người làm chứng, nhưng phần cuối di chúc lại có tên đại diện họ tộc, làng xóm, ban cán sự thôn ký tên, di chúc không được UBND xã chứng thực tại thời điểm lập di chúc, mà đến ngày 07/9/2012 UBND xã mới chứng thực về người ghi di chúc và người làm chứng mà không chứng thực về nội dung di chúc, nội dung di chúc không rõ ràng, cụ thể, ghi chung chung “.. diện tích đất vườn tôi được giải quyết quyền sử dụng và sở hữu cho cháu Nguyễn Thị M1 200m2 và cháu Nguyễn Thị D đã có chồng một con bằng 300m2 để làm nhà ở. Phần còn lại móng nhà tôi cho con trai là Nguyễn Văn Đ1 để làm nhà thờ cúng, hương khói trong những ngày giỗ chạp…”. Do đó, có căn cứ xác định di chúc cụ T5 lập ngày 25/7/1999 là chưa đảm bảo về trình tự, thủ tục, nội dung theo quy định của pháp luật” .

Hội đồng xét xử xét thấy, việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định Di chúc cụ T5 lập năm 1999 là không có giá trị pháp lý nêu trên là đánh giá về chứng cứ không đúng nên đã dẫn tới việc không tiến hành thu thập chứng cứ như: lấy lời khai của ông Trưởng thôn Diên P2, đại diện họ tộc ông Nguyễn Văn D3 và hàng xóm bà Nguyễn Xuân Thư K làm chứng; không thu thập thêm tài liệu chứng cứ khác để làm rõ nội dung và tính hợp pháp của di chúc là vi phạm tố tụng trong việc thu thập và đánh giá chứng cứ. Mặt khác, di sản thừa kế nêu trên được xác định là của cụ T5, ông Đ1 là con đẻ của cụ T5 nên thuộc hàng thừa kế thứ nhất; ông Đ1 (chết năm 2010), như vậy, hộ gia đình ông Đ1 bao gồm vợ và các con là người thừa kế tài sản. Theo tài liệu chứng cứ mới do bà C xuất trình tại phiên tòa phúc thẩm là các Giấy khai sinh thì thấy ông Đ1 có vợ Nguyễn Thị C có các con là Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị B, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị H3; tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xác định vợ ông Đ1 là Nguyễn Thị C và 02 con là Nguyễn Thị D, Nguyễn Văn Đ với tư cách bị đơn mà không đưa đầy đủ các con của ông Đ1 tham gia tố tụng là còn thiếu sót.

[3] Từ những nhận định trên, xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đánh giá chứng cứ không đúng; việc thu thập chứng cứ và chứng minh cũng chưa được thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được, dẫn đến việc chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc M, bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P về việc Đòi lại di sản thừa kế theo di chúc, chia di sản thừa kế theo di chúc của cụ Nguyễn Thị T5 lập ngày 02/4/1997 là không đúng pháp luật, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn và các đương sự. Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu kháng cáo của bị đơn là có căn cứ chấp nhận; do đó chấp nhận quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng chấp nhận kháng cáo của bị đơn, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

[5] Về án phí: do bản án sơ thẩm bị hủy để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ chịu án phí được xác định lại khi giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

[Nguồn: Bản án số 233/2025/DS – PT ngày 29/5/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG]

Xem file đính kèm toàn văn Bản án số: 233/2025/DS – PT

………………….

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 2, Star Tower, số 68 Dương Đình Nghệ, phường Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan