
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Đơn kháng cáo của bà Cao Thị Q2 nộp trong hạn luật định, Người kháng cáo thuộc trường hợp miễn tiền tạm ứng án phí đúng thời hạn theo quy định tại Điều 273 và Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp thuận giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[1.2]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp, điều kiện khởi kiện, thời hiệu khởi kiện: Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng.
[1.3]. Căn cứ Đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn S, ngày 08/5/2020, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức thụ lý vụ án số 287/2020/TLST-DS về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, giữa: Nguyên đơn: Nguyễn Văn S với Bị đơn: Nguyễn Văn N, Cao Thị Q2.
Ngày 16/11/2020, bị đơn Nguyễn Văn N và Cao Thị Q2 nộp đơn phản tố với yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01574/26833 ngày 13/7/2009 do UBND Quận I cấp cho ông Nguyễn Văn N, bà Cao Thị Q2 do cấp sai vị trí (bút lục số 62). Tòa án cấp sơ thẩm nhận đơn nhưng không thụ lý giải quyết (hồ sơ không có Thông báo thụ lý, không có văn bản rút đơn phản tố của đương sự).
[1.4]. Tại Quyết định hoãn phiên tòa số 6130/2024/QĐST-DS ngày 31/7/2024, Biên bản phiên tòa sơ thẩm ngày 31/7/2024 và tại trang 1 của Biên bản hội ý ngày 31/7/2024 đều ghi thành phần Hội đồng xét xử có Hội thẩm nhân dân là: Ông Phạm Văn Tâm và bà Đặng Thị Thu Oanh nhưng Hội thẩm nhân dân ký Biên bản hội ý trên là ông Phạm Văn T2 và bà Phan Thị B.
[2]. Xét kháng cáo của bà Cao Thị Q2.
[2.1]. Về yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn. -Nguyên đơn yêu cầu ông Nguyễn Văn N, bà Cao Thị Q2 trả lại phần đất có diện tích 60,3m² thuộc một phần thửa số 55, tờ bản đồ số 23 (TL: BĐĐC 2003) tọa lạc tại khu phố L, phường L, thành phố T cho ông S (có người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Nguyễn Văn S). Cụ thể các phần chỉ dẫn diện tích theo số thứ tự 3, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 16, 18, 20, 21 tại Bản đồ hiện trạng – áp ranh số 23287/TTĐĐBĐ-CNTĐ ngày 28/9/2020 của Trung tâm đo đạc bản đồ – Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H.
[2.2]. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh số 23287/TTĐĐBĐ-CNTĐ ngày 28/9/2020 của Trung tâm đo đạc bản đồ – Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cùng các tài liệu chứng cứ khác để giải quyết vụ án. Từ đó, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
[3]. Xét kháng cáo của đương sự.
[3.1]. Đây là vụ án tranh chấp về quyền sử dụng đất nên phải lập Bản đồ hiện trạng vị trí-áp ranh giữa các thửa đất tranh chấp mới có cơ sở xác định đúng vị trí, diện tích đất tranh chấp, cụ thể cần xác định diện tích, vị trí và áp ranh: thửa số 55, tờ bản đồ số 23 (TL:BĐĐC-2003) tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 01375/26833 ngày 23/12/2008 do UBND Quận I cấp cho hộ ông Nguyễn Văn S, thửa 543, tờ bản đồ số 23 (TL:BĐĐC-2003) tại Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số H 01574/26833 ngày 13/7/2009 do UBND Quận I cấp cho ông Nguyễn Văn N, bà Cao Thị Q2 (thể hiện tại Bản đồ hiện trạng vị trí để lập thủ tục chuyển quyền sử dụng đất số 767/VPĐK QSDĐ được Văn phòng Đăng ký QSDĐ Quận 9 kiểm tra ngày 03/02/2009), ranh đất thực tế ông N, bà Q2 sử dụng, ranh đất giữa ông Nguyễn Văn S với ông Nguyễn Văn N, bà Cao Thị Q2 giao nhận khi chuyển nhượng (nếu có thể xác định).
[3.2]. Tại Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh số 23287/TTĐĐBĐ-CNTĐ ngày 28/9/2020 của Trung tâm đo đạc bản đồ – Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H thể hiện:
– Áp ranh thửa 543, tờ bản đồ số 23 (TL:BĐĐC-2003) tại Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số H01574/26833 ngày 13/7/2009 do UBND Quận I cấp cho ông Nguyễn Văn N, bà Cao Thị Q2 với 02 ranh đất được cho là ông N, bà Q2 sử dụng do đại diện Nguyên đơn hướng dẫn. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Nguyên đơn cũng không giải thích vì sao lại có 02 ranh hướng dẫn trên Bản đồ.
– Không áp ranh và không ghi chú áp ranh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 01375/26833 do UBND Quận 1 cấp cho hộ ông Nguyễn Văn S vào ngày 23/12/2008 (cập nhật giảm 236m² ngày 13/7/2009) trên Bản đồ;
– Diện tích, vị trí đất tranh chấp chỉ được xác định trên cơ sở áp ranh giữa Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số H01574/26833 ngày 13/7/2009 do UBND Quận I cấp cho ông Nguyễn Văn N, bà Cao Thị Q2 với ranh đất được đại diện Nguyên đơn cho là ông N, bà Q2 sử dụng.
Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã buộc: Ông N, bà Q2 tháo dỡ tài sản trên đất, trả lại gia đình ông S diện tích đất tại Khu A, gồm các vị trí: số 3 (1,4m², thửa 40), thửa 55: số 9 (11,2m²), số 10 (6,4m²), số 11 (24,6m²), số 12 (9,3m²), số 13 (1,1m²) và số 14 (1,3m²) là không thuyết phục.
[3.3]. Tòa án cấp sơ thẩm cũng căn cứ vào Bản đồ trên buộc phía ông N, bà Q2 trả cho hộ ông S diện tích đất tại Khu B, gồm các vị trí: số 16 (0,4m², thuộc thửa 41), số 18 (0,3m² thuộc thửa 41), số 20 (2,7m², thuộc thửa 53) và số 21 (1,8m², thuộc thửa 53) nhưng hồ sơ vụ án không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh các vị trí đất này thuộc quyền sử dụng hợp pháp của hộ ông S.
[3.4]. Bên cạnh đó, tại vị trí số 22 (diện tích 17,5m²) được thể hiện trên Bản đồ nằm hoàn toàn trong ranh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 01574/26833 ngày 13/7/2009 do UBND Quận 1 cấp cho ông Nguyễn Văn N, bà Cao Thị Q2 nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào lời khai của phía Nguyên đơn nhận định gia đình ông S tự nguyện để lại làm “Lối đi chung” để không buộc bị đơn trả đất.
Mặt khác, xem xét Bản đồ hiện trạng vị trí để lập thủ tục chuyển quyền sử dụng đất số 767/VPĐK QSDĐ được Văn phòng Đăng ký QSDĐ Quận 9 kiểm tra ngày 03/02/2009 có thể hiện giáp với thửa đất của ông N, bà Q2 nhận chuyển nhượng từ hộ ông S có “Lối đi nội bộ”, vậy giữa lối “Lối đi chung” tại vị trí số 22, 24 Bản đồ hiện trạng vị trí-áp ranh số 23287/TTĐĐBĐ-CNTĐ ngày 28/9/2020 và “Lối đi nội bộ” tại Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 30/12/2008 có mối liên hệ như thế nào, việc này chưa được cấp sơ thẩm làm rõ.
[4]. Từ những phân tích tại Mục [1.3] và Mục [3], có cơ sở xác định Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, những vi phạm này xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông N, bà Q2 và những người khác có liên quan.
[5]. Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 4068/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức để giao về Tòa án nhân dân Khu vực 2, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.
[6]. Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thống nhất với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[7]. Về án phí dân sự. Án phí dân sự phúc thẩm: Do hủy án sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Án phí dân sự sơ thẩm sẽ được quyết định khi vụ án được giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
[Nguồn: Bản án số 806/2025/DS-PT ngày 25/7/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]
Xem file đính kèm toàn văn Bản án số: 806/2025/DS-PT
………………….
Luật sư tại Đà Nẵng:
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Star Tower, số 68 Dương Đình Nghệ, phường Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn