
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thụ lý và giải quyết vụ án đúng thẩm quyền về loại việc và lãnh thổ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ngày 19/9/2025 Tòa án nhân dân khu vực 12 – Phú Thọ xét xử sơ thẩm; Ngày 29/9/2025 nguyên đơn bà Nguyễn Thị M kháng cáo. Ngày 03/10/2026 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Phú Thọ có quyết định kháng nghị. Đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Phú Thọ và kháng cáo của nguyên đơn.
Thứ nhất, về tố tụng:
Diện tích đất tranh chấp nằm trong thửa đất số 18, có diện tích 817m², được UBND huyện C cấp cho hộ ông Nguyễn Quý H1 đến năm 1993 đã chuyển nhượng một phần cho ông Phạm Văn T. Năm 2003 ông H1 chết, do đó những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất là vợ và các con ông H1 được hưởng phần di sản của ông H1 để lại. Việc Tòa án sơ thẩm không đưa các con ông H1 tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan để lấy ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án là vi phạm Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự và ảnh hưởng đến quyền lợi của họ.
Bản án sơ thẩm kiến nghị loại bỏ diện tích 87m² đất của anh Trần Văn H, chị Phạm Thị T2 ra khỏi GCNQSDĐ của hộ ông Nguyễn Quý H1 nhưng không xác định cơ quan có thẩm quyền là cơ quan nào để đưa cơ quan này tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, dẫn đến xác định thiếu người tham gia tố tụng trong vụ án.
Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và quyết định của bản án sơ thẩm giải quyết 02 nội dung, gồm: Tranh chấp đất đai và tiền đền bù hoa màu giải phóng mặt bằng. Tuy nhiên, trong đơn khởi kiện nguyên đơn không nêu rõ yêu cầu bị đơn phải trả diện tích đất lấn chiếm là bao nhiêu mét vuông, không nêu rõ số tiền bị đơn phải trả là bao nhiêu. Trong trường hợp này Tòa án sơ thẩm phải yêu cầu nguyên đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện theo đúng quy định tại Điều 189 và Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Thẩm phán không yêu cầu nội dung này dẫn đến không xác định được phạm vi nội dung khởi kiện cũng như không tính được án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Thứ hai, về việc thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ:
Ngay từ đầu việc không làm rõ được yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên đã không xác định được phạm vi khởi kiện. Bản án sơ thẩm tuyên không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả lại diện tích đất lấn chiếm là chưa đủ cơ sở, bởi lẽ:
Chứng cứ do ông Phạm Văn T cung cấp để chứng minh quyền sử dụng đất của mình là Giấy chuyển nhượng đất và hoa màu đề ngày 26/02/1993 (BL20) không thể hiện kích thước chiều rộng, chiều dài và không thể hiện diện tích đất chuyển nhượng là bao nhiêu mét vuông. Trong vụ án này Tòa án phải xác định được mốc giới, ranh giới của thửa đất do ông T đã nhận chuyển nhượng từ ông H1, bà M để làm căn cứ giải quyết vụ án mới phù hợp và đảm bảo đúng pháp luật.
Mặt khác trong hồ sơ có thể hiện bản trích đo do Văn phòng đăng ký đất đai Sở Tài nguyên môi trường tỉnh H thực hiện ngày 06/12/2023 đã xác định diện tích đất chồng lấn giữa 02 hộ là 5,5m². Cấp sơ thẩm đã không xem xét đánh giá diện tích đất chồng lần này là thuộc thửa đất số 69 (hộ ông T) hay thuộc thửa đất số 18 (hộ ông H1) là thiếu sót.
Đây là vụ án tranh chấp đất lấn chiếm, Tòa án phải chỉ ra được ranh giới diện tích đất mà các hộ đang sử dụng là như thế nào để qua đó đánh giá có việc lần chiếm hay không và nếu có lấn chiếm thì là bao nhiêu mét vuông? Bản án sơ thẩm chỉ tuyên bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mà không chỉ ra được mốc giới ranh giới sử dụng đất của 02 hộ là chưa giải quyết triệt để vụ án, các đương sự không biết mình phải sử dụng đất đến đâu nên sẽ không thể thi hành bản án được và tranh chấp giữa các đương sự vẫn tồn tại trên thực tế.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm đã nhận định “số tiền mà ông T nhận đền bù bao nhiêu trên diện tích mà bà cho rằng ông T đã lấn chiếm bà M cũng không biết”. Nhận định trên là không đúng với diễn biến khách quan của vụ án, thể hiện không đúng quan điểm của nguyên đơn, bởi tại phiên tòa sơ thẩm bà M đã nêu rõ yêu cầu của mình là đề nghị ông T bồi thường 13.800.000 đồng. Cấp sơ thẩm phải xem
xét, đánh giá yêu cầu này có đúng không? Căn cứ vào đâu bà M đòi bồi thường mới đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Phú Thọ và kháng cáo của nguyên đơn là có cơ sở nên được chấp nhận. Cần hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại mới đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp cho các bên đương sự.
Tuy nhiên Hội đồng xét xử cũng đánh giá, xem xét qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện, tại cấp sơ thẩm Tòa án đã yêu cầu bà M nêu rõ, cụ thể yêu cầu khởi kiện của mình và đã ban hành văn bản yêu cầu bà Nguyễn Thị M phải cung cấp thông tin về các con là hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Quý H1 nhưng bà M đã từ chối cung cấp.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà M mới trình bày nêu rõ được quan điểm của mình là yêu cầu ông Phạm Văn T phải trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là 70m², đồng thời cũng cũng cung cấp cho Tòa án thông tin về tên tuổi, địa chỉ của các con bà M và ông H1.
[3] Đối với quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn cho rằng bà Nguyễn Thị M không có quyền khởi kiện nên phải đình chỉ giải quyết vụ án là không có cơ sở, không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Phú Thọ và kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M, huỷ Bản án dân sự sơ thẩm số: 25/2025/DS-ST ngày 19/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Phú Thọ) và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 12 – Phú Thọ giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác được xác định lại khi Tòa án giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị hủy nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[NGUỒN: BẢN ÁN SỐ 119/2026/DS-PT NGÀY 6/5/2026 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ]
LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 119/2026/DS-PT
……………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn