Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án sơ thẩm vì không xác định được diện tích cụ thể của từng loại đất tranh chấp là sai sót và trở ngại trong quá trình thi hành án

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án sơ thẩm vì không xác định được diện tích cụ thể của từng loại đất tranh chấp là sai sót và trở ngại trong quá trình thi hành án

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án. Căn cứ vào khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp: nguyên đơn ông Nguyễn Viết B cho rằng một phần thửa đất số 16, tờ bản đồ số 06 (nay là thửa đất số 56, tờ bản đồ số 29 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 366587 ngày 24/8/2011 do Ủy ban nhân dân huyện Q cấp cho hộ bà Nguyễn Thị T2), có diện tích 2.469,1m2đất và ngôi nhà cấp 4, diện tích xây dựng 102,4m2toạ lạc tại thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (nay là phường B, tỉnh Quảng Trị) là di sản của cụ Nguyễn V3và cụ Nguyễn Thị D2(cha, mẹ của ông Nguyễn Viết B) chết để lại nên ông yêu cầu Toà án công nhận nhà, đất nêu trên là di sản thừa kế và huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 366587 nêu trên. Ngoài ra, ông B còn yêu cầu công nhận diện tích 1.504,4m2đất cũng thuộc một phần thửa đất số 56, tờ bản đồ số 29, là thuộc quyền sử dụng của ông. Ngược lại, bị đơn bà Nguyễn Thị T2 thì cho rằng: toàn bộ thửa đất số 56, tờ bản đồ số 29, với diện tích 4.306,4m2là do Hợp tác xã Q cấp cho gia đình bà từ năm 1979. Tại phiên toà phúc thẩm, ông T, ông L6đều khẳng định: cụ V3, cụ D2sinh sống tại ngôi nhà cấp 4 gắn liền với phần diện tích đất nằm trong thửa đất số 56 từ trước cho đến khi các cụ lần lượt chết, bà T2 lấy chồng cũng về ở cùng cụ V3, cụ D2tại ngôi nhà này cho đến nay. Toà án cấp sơ thẩm xác định một phần thửa đất số 56, tờ bản đồ số 29, diện tích đo đạc hiện trạng 2.469,1m2 đất tọạ lạc tại thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (nay là phường B, tỉnh Quảng Trị) và ngôi nhà cấp 4, diện tích xây dựng 102,4m2có nguồn gốc của cụ V3và cụ D2.

[3] Tại “Đơn xin đất làm nhà” ngày 01/3/1984 của ông Nguyễn Đức L5(chồng của bà Nguyễn Thị T2) có nội dung: xin một đám đất để làm nhà, phía Đông và phía Nam của đám đất này giáp với rặng tre của cụ Nguyễn V3(cha của ông Nguyễn Đức L5). Tại văn bản số 2346/UBND ngày 31/10/2024 của Ủy ban nhân dân thị xã B xác định: khi đo đạc bản đồ địa chính vào năm 1992 và kê khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu thì thửa đất của cụ V3được đo gộp chung với thửa đất mà Hợp tác xã cấp cho ông L5thành thửa đất số 16, tờ bản đồ số 06. Tại biên bản xác minh ngày 03/12/2024, ông Trần Văn D6-Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Q cũng khẳng định: một phần thửa đất số 56, tờ bản đồ số 29 tại phường Q, thị xã B có nguồn gốc là của cụ Nguyễn V3và cụ Nguyễn Thị D2. Như vậy, thửa đất số 16, tờ bản đồ số 06 (nay là thửa đất số 56, tờ bản đồ số 29) bao gồm cả thửa đất của vợ chồng ông L5, bà T2được Nhà nước cấp và thửa đất do ông, bà để lại cho cụ V3, cụ D2quản lý, sử dụng từ trước cho đến khi các cụ chết. Tuy nhiên, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chỉ cấp chung một thửa đất số 56, tờ bản đồ số 29 cho hộ bà Nguyễn Thị T2đứng tên với diện tích 200m2đất ở là không rõ ràng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người thuộc diện thừa kế của cụ V3, cụ D2.

[4] Tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 366587, được chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã B chỉnh lý ngày 19/02/2021 thì diện tích đất hộ bà T2được phép sử dụng 3.943,3m2, trong đó: đất ở tại nông thôn 200m2, đất trồng cây hàng năm 3.743,3m2(thửa đất có 282,8m2đất nằm trong quy hoạch giao thông). Khi xác định phần diện tích đất của cụ V3và cụ D2(2.469,1m2) với phần diện tích đất của hộ bà T2cũng như khi xác định phần diện tích đất của cụ V3và của cụ D2, án sơ thẩm không xác định được trong đó có bao nhiêu m2đất ở và bao nhiêu m2đất trồng cây hàng năm. Việc không xác định rõ ràng này là sai sót, sẽ trở ngại trong quá trình thi hành án. Ngoài ra, mặc dù các đương sự không yêu cầu phân chia di sản nhưng án sơ thẩm không tuyên công nhận ngôi nhà cấp 4, diện tích xây dựng 102,4m2 là di sản và giao ngôi nhà này cho ai đại diện quản lý là sai sót. Những sai sót này, cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải huỷ Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2025/DS-ST ngày 12/3/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình (nay là Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị) và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Do việc huỷ án nên yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Viết B, bị đơn bà Nguyễn Thị T2và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Tiến Đ, ông Nguyễn Tân L1chưa được xem xét.

[5] Ngoài những sai sót cơ bản dẫn đến việc huỷ bản án như đã nêu trên, án sơ thẩm còn có những sai sót: ngày 16/9/2024, bà Nguyễn Thị T2có đơn với tiêu đề “Yêu cầu phản tố” với nội dung bà không đồng ý với ba yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Viết B. Như vậy, nội dung đơn không phải là yêu cầu phản tố nhưng án sơ thẩm ban hành Thông báo thụ lý đơn yêu cầu phản tố và quyết định không chấp nhận yêu cầu phản tố là không đúng quy định tại Điều 200 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Án sơ thẩm còn tuyên “Công nhận diện tích 1.234,55m2 tại thửa đất số 56, tờ bản đồ số 06…” và tuyên “Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 366587… tại thửa đất số 56, tờ bản đồ số 06 xã Q” là không đúng số tờ bản đồ. Mặt khác, các đương sự không yêu cầu phân chia di sản nhưng án sơ thẩm lại xác định thời hiệu thừa kế là vượt quá yêu cầu khởi kiện. Cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

[6] Án phí dân sự phúc thẩm: do Bản án dân sự sơ thẩm bị huỷ để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Tiến Đ, ông Nguyễn Tân L1số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp.

[Nguồn: Bản án số 03/2025/DS-PT ngày 6/8/2024 của TÒA PHÚC THẨM – TÒA ÁN NHÂN TỐI CAO TẠI ĐÀ NẴNG]

Xem file đính kèm toàn văn Bản án số: 03/2025/DS-PT

………………….

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 2, Star Tower, số 68 Dương Đình Nghệ, phường Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan