
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Người thừa kế quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn ông Nguyễn Chí H1 kháng cáo; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương kháng nghị trong thời hạn luật định nên Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương thụ lý theo quy định của pháp luật.
[2] Bị đơn ông Nguyễn Văn H5, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương có đơn xin xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hứa Văn L1, bà Triệu Thị G1, bà Nguyễn Thị Thúy K1, bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị Bích H6, bà Nguyễn Ngọc N1, ông Tất Quảng T4 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt họ.
[3] Ngày 17/7/2018, Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên (nay là thành phố T) thụ lý vụ án số 153/2018/TLST-DS về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản” giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị G với bị đơn bà Nguyễn Cẩm H4 đối với tài sản thừa kế do ông Nguyễn Văn H7 để lại. Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Thành T có yêu cầu độc lập buộc những người thừa kế của ông H7 phải trả cho ông T quyền sử dụng đất diện tích là 847,6m2 thuộc các thửa thửa 313, thửa 372 (trong đó diện tích 488,8m2 thuộc thửa 313 và diện tích đất 358,8m2 thuộc thửa 372) cùng tờ bản đồ số 02 tọa lạc tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là H01077 ngày 27/09/2006.
Ngày 11/10/2022, ông Nguyễn Thành T chết.
Ngày 05/10/2023, Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên ban hành Quyết định tách vụ án số 05/2023/QĐ-CA, theo đó tách vụ án “Tranh chấp thừa kế tài sản” giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị G với bị đơn bà Nguyễn Cẩm H4 và vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Chí H1, ông Nguyễn Chí P, ông Nguyễn Thành T2 với các bị đơn là bà Nguyễn Thị G, bà Nguyễn Cẩm H4, ông Nguyễn Văn T3, ông Nguyễn Văn H5, bà Nguyễn Thị Cẩm L. Ngày 05/10/2023, Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên thụ lý vụ án số 221/TB-TLVA xác định nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Chí H1, ông Nguyễn Chí P, ông Nguyễn Thành T2 và xác định yêu cầu khởi kiện như nội dung yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Thành T là yêu cầu các bị đơn phải trả quyền sử dụng đất tranh chấp thuộc thửa 313 và thửa 372 với tổng diện tích là 847,6m2. Theo kết quả đo đạc thực tế quyền sử dụng đất tranh chấp thuộc thửa 313 và thửa 372 với tổng diện tích là 922,1m2. Việc xác định tư cách tố tụng như quyết định tách vụ án và thông báo thụ lý vụ án là không đúng. Mặt khác, quá trình tố tụng ông T và những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng không có yêu cầu khởi kiện bổ sung nhưng Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết theo yêu cầu đối với diện tích 922,1m2 là giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện.
[4] Quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm, ông Nguyễn Chí H1 khai quyền sử dụng đất thửa 835 tờ bản đồ 02 tọa lạc tại phường T, T, Bình Dương trước đây thuộc quyền sử dụng của ông H1. Năm 2020, ông H1 chuyển nhượng cho ông Tất Quảng T4, hiện nay ông T4 đã chuyển nhượng cho người khác và người nhận chuyển mới cũng sử dụng các lối đi qua các thửa 313 và thửa 372 để đi ra đường công cộng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không xác minh làm rõ, để đưa họ tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[5] Theo Mảnh trích lục địa chính số 85-2023 (bút lục 174) thể hiện trên các thửa đất 313, 372 tờ bản đồ số 2 tại phường T tồn tại 03 lối đi hiện hữu; biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 30/12/2021, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hứa Văn L1 trình bày: ông L1 sử dụng lối đi qua các thửa 313 và thửa 372 để đi ra đường công cộng từ năm 2010, trước đây là đường bờ ruộng nhưng ông L1 đã đầu tư đổ thêm đất tạo thành như con đường hiện nay, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị G buộc bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Chí H1, ông Nguyễn Chí P, ông Nguyễn Thành T2 phải chấm dứt hành vi sử dụng lối đi bất hợp pháp trên thửa đất 313, 372 tờ bản đồ số 2 tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, trả lại quyền sử dụng đất hợp pháp cho bà Nguyễn Thị G, bà Nguyễn Cẩm H4, bà Nguyễn Thị Cẩm L, ông Nguyễn Văn T3, ông Nguyễn Văn H5 bao gồm cả phần đường mà ông L1 đã đầu tư trên đất nhưng chưa hỏi ý kiến của ông L1 về giá trị đầu tư trên đất là làm ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự.
[6] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại phần đất thuộc các thửa đất 313, 372 tờ bản đồ số 2 tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương và trình bày phần đất này do cha mẹ ông T để lại và sử dụng từ năm 1980 cho đến nay, ông T có trồng một số cây tràm, chuối. Bị đơn cho rằng đất này là của ông của vợ chồng ông Nguyễn Văn H7, bà Nguyễn Thị C2 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01787QSDĐ/TU ngày 28/12/1999 cho hộ ông Nguyễn Văn H7, nhưng do giấy tờ bị thất lạc nên Ủy ban nhân dân huyện T cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01077 cho ông Nguyễn Văn H7.
Văn bản số 888/TNMT-ĐĐ ngày 03/7/2023 của Phòng Tài Nguyên và Môi trường thành phố T8 xác định việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01787QSDĐ/TU ngày 28/12/1999 cho hộ ông Nguyễn Văn H7 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01624QSDĐ/TU ngày 28/12/1999 cho hộ ông Nguyễn Thành T theo diện đại trà, không đo đạc thực tế; Biên bản xác minh ngày 13/12/2017 (bút lục 28) của công chức địa chính phường T thì thửa đất 313, 372 do gia đình ông Nguyễn Thành T sử dụng, khi ông K2 còn sống thì trồng lúa và cột trâu, sau này ông T sử dụng trồng chuối. Gia đình bà ông H7, bà G không sử dụng hai phần thửa đất này. Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ quá trình quản lý, sử dụng đất, lý do tồn tại các con đường trên phần đất tranh chấp là chưa đảm bảo căn cứ giải quyết vụ án.
[7] Mặt khác, theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 19/11/2021 (bút lục
136), ông T trình bày ông T có trồng 03 cây tràm trên đất, đã chết 02 cây, còn lại 01 cây; biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 09/6/2022 (bút lục 173) ghi nhận trên các thửa đất 313, 372 có 04 bụi chuối, 04 cây tràm, 04 cây lồng mức; biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 30/12/2021 (bút lục 156) ghi nhận trên các thửa đất 313, 372 có 05 bụi chuối, 01 cây tràm; tuy nhiên, tại biên bản định giá ngày 27/4/2023 lại xác định trên các thửa đất 313, 372 có 01 cây tràm do ông H7 trồng năm 1993 và 01 cây dâu tằm. Như vậy, trên các thửa đất 313, 372 có tài sản là cây trái nhưng có mâu thuẫn về loại cây trồng và người trồng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ ai là người thực tế sử dụng đất, trồng cây trái trên đất, lý do có sự khác nhau qua các lần xem xét thẩm định tại chỗ. Đây là căn cứ quan trọng để xác định người thực tế sử dụng đất và căn cứ xem xét tính hợp pháp của việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01787QSDĐ/TU ngày 28/12/1999 cho hộ ông Nguyễn Văn H7 nhưng chưa được cấp sơ thẩm làm rõ.
[8] Ông Nguyễn Văn H7 chết ngày 25/8/2006 (theo Giấy chứng tử số 74/2006 quyển số 01 TPHT do Ủy ban nhân dân thị trấn T cấp ngày 05/9/2006) nhưng ngày 27/9/2006, Ủy ban nhân dân huyện T mới cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01077 cho ông Nguyễn Văn H7 nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ.
[9] Từ nhận định trên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, chấp nhận kháng cáo của người thừa kế quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn ông Nguyễn Chí H1 .
[10] Do Tòa án cấp sơ thẩm có những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện, thiếu người tham gia tố tụng, chưa điều tra làm rõ nội dung vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên để đảm bảo quyền lợi của các đương sự, cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[11] Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, trả lại cho người kháng cáo số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[Nguồn: Bản án số 532/2024/DS-PT của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG]
Xem file đính kèm toàn văn Bản án số: 532/2024/DS-PT
………………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Phước Ninh, Quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, quận Thuận Hoá, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường 6, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Star Tower, số 68 Dương Đình Nghệ, phường Yên Hoà, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
Quốc lộ 1A, Khối 11, phường Quỳnh Xuân, Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Vinh Tân, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage LUẬT SƯ FDVN: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn