Feel free to go with the truth

Trang chủ / Nghiên cứu học tập / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ do cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ chứng cứ để giải quyết vụ án

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ do cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ chứng cứ để giải quyết vụ án

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long, đơn kháng cáo của nguyên đơn về hình thức hợp lệ, trong hạn luật định nên được đưa ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[1.2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, đương sự trong vụ án.

Cấp sơ thẩm xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, đương sự trong vụ án và thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân.

[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự

Sau khi Tòa án phúc thẩm thu lý vụ án, ông Tô Vĩnh H2 cung cấp bản phô tô giấy chứng tử của bà Bùi Thị H cho Tòa án. Đại diện theo ủy quyền của bà Bùi Thị H tại cấp sơ thẩm là bà Phạm Anh T1 không tham gia giai đoạn phúc thẩm và không có thông tin về người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Bùi Thị H. Tòa án phúc thẩm triệu tập nhiều lần thông qua đường bưu điện theo địa chỉ trong bản án sơ thẩm nhưng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là Phạm Thị Hồng H1 và Phạm Thị Thảo T là hai con gái của bà Bùi Thị H nhưng không tống đạt được. Thông qua Văn phòng T2 xác định đương sự Phạm Thị Thảo T và Phạm Thị Hồng H1 không có sổ hộ khẩu tại địa phương theo địa chỉ trong bản án sơ thẩm. Thông qua Ủy thác cho Tòa án nhân dân huyện M T tỉnh Vĩnh Long cũng không thực hiện việc tống đạt cho hai đương sự này với lý do không có nơi cư trú theo địa chỉ tại bản án sơ thẩm. Theo xác minh của Tòa án nhân dân huyện M T tại Công an xã M, tỉnh Vĩnh Long ngày 16/5/2023 thì: Bà Bùi Thị H không có chồng, có con là Phạm Thị Hồng H1 và Phạm Thị Thảo T. Bà H1 và bà T không có sổ hộ khẩu tại địa phương, không sống cùng bà H mà sống cùng với ngoại và dì ở S.

Tòa án cấp phúc thẩm cũng ủy thác cho Tòa án nhân dân Thành phố Đ X, tỉnh Bình Phước xác minh tại xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước nơi đăng ký khai tử của bà Bùi Thị H. Theo xác minh tại Công an xã T, thành phố Đ ngày 08/5/2025 thì Phạm Thị Hồng H1 và Phạm Thảo T không đăng ký thường trú, tạm trú cũng như không thực tế trú tại địa phương. Người đăng ký khai tử cho bà Bùi Thị H là hàng xóm của bà H.

Do đó, cấp phúc thẩm không xác định được địa chỉ của người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Bùi Thị H.

[2] Xét nội dung kháng cáo của bà Bùi Thị H:

[2.1]Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu: vô hiệu một phần họp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, được chứng thực ngày 17/5/2013, với bên chuyển nhượng là bà Bùi Thị H, bên nhận chuyển nhượng bà Huỳnh Thị V tại thửa đất 969, tờ bản đồ sổ 1, diện tích 552,6m2 đất tọa lạc ấp A, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; khôi phục, công nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của bà Bùi Thị H đối với diện tích 454,1 m2 thuộc chiết thửa đất số 87, tờ bản đồ số 4, đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long để bà H làm thủ tục kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Phần đất này bà Bùi Thị H được Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Vĩnh Long cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 25/02/2013 với diện tích 552,6m2, loại đất chuyên trồng lúa nước, thuộc thửa 969, tờ bản đồ số 1, tọa lạc ấp A, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Năm 2013, bà Bùi Thị H và bà Huỳnh Thị V có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với phần đất trên, hai bên tranh chấp về diện tích đất chuyển nhượng.

[2.2] Hội đồng xét xử thấy cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ không đầy đủ, không phù hợp với thực tế khách quan vụ án:

[2.2.1] Về nội dung hợp đồng: Hồ sơ thể hiện các bên thừa nhận giá chuyển nhượng 25.000.000 đồng. Giá đất chuyển nhượng tại địa phương theo Quyết định số: 19/2012/QĐ –UBND ngày 20 tháng 12 năm 2012 của UBND tỉnh V quy định giá các loại đất năm 2013 trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long. Tại vị trí tranh chấp đơn giá 120.000 đồng/1m2 nên toàn bộ thửa đất diện tích 552,6 m2 giá nhà nước quy định là: 66.312.000 đồng. Tại phần đất này khi giải quyết tranh chấp với ông Huỳnh Văn N có giá chuyển nhượng là: 50 chỉ vàng 24k/1.000 m2 tại thời điểm năm 2000. Bản án phúc thẩm số 152/2011/DS-PT ngày 15/8/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long buộc ông N thanh toán cho bà H diện tích 234 m2, đơn giá theo thỏa thuận: 720.000 đồng/m2, phần diện tích 552,6 m2 công nhận cho bà H. Với đơn giá trên tại thời điểm chuyển nhượng phần đất diện tích 552,6 m2 có giá cao hơn nhiều so với số tiền các bên khai 25.000.000 đồng. Khi lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bà Bùi Thị H sinh sống trên căn nhà nằm trên đất, bà cũng không có chỗ ở nào khác. Tại các biên bản hòa giải, phiên tòa sơ thẩm bị đơn thùa nhận không mua bán nhà và tài sản trên đất cho rằng thỏa thuận cho bà H ở suốt đời nhưng không được bà H thừa nhân. Giá trị căn nhà tường và vật kiến trúc trên đất theo định giá của cấp sơ thẩm là 59.685.000 đồng, ngoài ra còn có mồ mả trên đất.

[2.2.2] Về hình thức hợp đồng: Đơn kháng cáo bà Bùi Thị H trình bày: bà không đọc được, chỉ viết được chữ H vì trước đây phải học ký chữ H để lãnh lương của chồng, ngoài chữ ký H thì bà không viết, không đọc được chữ ký nào khác. Đơn xin xác nhận nội dung bà không biết chữ ngày 22/4/2018 có xác nhận của chính quyền địa phương Tòa không xem xét. Bị đơn cho rằng bà H biết chữ thông qua lời khai của ông Lê Hữu H3 và Nguyễn Thị Hồng P1. Trong hồ sơ không có tài liệu chứng cứ nào thể hiện bà H biết chữ. Cần thu thập thêm các tài liệu, chứng cứ tại cơ quan quản lý địa phương mới có đủ điều kiện kết luận bà H biết chữ hay không.

[2.3] Biên bản xác minh của Tòa án cấp sơ thẩm ngày 26/3/2019 thì Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15/7/2013 giữa bà H với bà V do ông Phạm Minh C2 là cán bộ địa chính xã thời điểm đó viết hộ. Ông C2 cho rằng anh là người viết vào nội dung hợp đồng chuyển nhượng, có mặt bà H và bà V và có mặt tại UBND xã khi chứng thực. Tuy nhiên, đơn kháng cáo bà H trình bày: Bà bị tàn tật, bị tai biến nhiều năm, đại diện ủy quyền của bà tại cấp sơ thẩm trình bày bà H ký hợp đồng tại nhà, không có mặt tại Ủy ban nhân dân xã K chứng thực. Như vậy, thủ tục chứng thực cần làm rõ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà H và bà V và khi UBND xã M chứng thực bà H có mặt không? Bà H bị bệnh liệt nửa người thì ai đưa bà H đến UBND xã để lập và ký hợp đồng? bà H có tự đọc được hợp đồng hay có ai đọc cho bà nghe?

[3] Về tố tụng: Cấp sơ thẩm xác định bà Phạm Thị Hồng H1 và Phạm Thị Thảo T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án không thực hiện cấp, tống đạt cho họ, thực hiện việc niêm yết tại ấp A, xã M, huyện M tỉnh Vĩnh Long nhưng họ không có hộ khẩu tại địa phương, cơ quan công an xã cũng xác nhận họ không đăng ký thường trú, tạm trú hay sinh sống cùng bà H ở địa phương. Do vậy, không đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

[4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ chứng cứ để giải quyết vụ án mà tòa án cấp phúc thẩm không bổ sung được nên chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ giải quyết lại vụ án.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Án phí, chi phí tố tụng được xem xét, giải quyết khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.

[NGUỒN: Bản án số 575/2025/DS-PT NGÀY 30/5/2025 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]

LINK PDF: Bản án số 575/2025/DS-PT

………………….

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan