
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Phan Minh H và bà Nguyễn Thị Mai L2 làm trong hạn luật định; đồng thời đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo của đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Trần Quốc L là ông Phan Minh H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Mai L2. Hội đồng xét xử, xét thấy:
[2.1] Về việc xác định hàng thừa kế: Quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự đều thừa nhận ông Trần N và bà Phan Thị T1 là vợ chồng. Quá trình chung sống, ông N và bà T1 có 06 người con chung, gồm: Bà Trần Thị C1, ông Trần Quốc K1, ông Trần Quốc L1, ông Trần Quốc L, bà Trần Thị C và Trần Quốc H5 (Đã chết năm 2012). Ông H5 có vợ là bà Trần Thị H1 và 05 người con là ông Trần Quốc K2, ông Trần Quốc H6 (Đã chết, không có vợ con), ông Trần Quốc H2, bà Trần Thị Cẩm H3 và ông Trần Quốc H4.
Ông N và bà T1 tạo lập được tài sản là quyền sử dụng thửa đất số 551, tờ bản đồ 13, diện tích 575,25m2 theo GCNQSDĐ số BB 645703 do UBND thành phố B cấp ngày 22/9/2010 cho hộ bà Phan Thị T1. Tại phiên tòa sơ thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Trần Quốc L là ông Lê Thanh K trình bày ông Trần Quốc T3 là con riêng của ông Trần N. Đây là tình tiết mới phát sinh hàng thừa kế thứ nhất của ông Trần N, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không tạm ngừng phiên tòa để xác minh đối với nội dung này. Tại đơn kháng cáo, ông Phan Minh H và bà Nguyễn Thị Mai L2 trình bày ông Trần N có các con riêng là ông Trần M (sinh năm 1954), ông Trần Quốc L3 (sinh năm 1861), ông Trần Quốc T3 (sinh năm 1963), bà Trần Thị M1 (sinh năm 1965), bà Trần Thị X (sinh năm 1968) và cung cấp giấy xác nhận thông tin về cư trú của Công an xã H ngày 08/4/2022 đối với ông Trần Quốc T3 có anh là ông Trần Quốc L3, bố là ông Trần N. Tòa án cấp sơ thẩm không xác định đầy đủ hàng thừa kế thứ nhất của ông Trần N để đưa vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục.
[2.2] Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Trần Quốc L, bà Nguyễn Thị Mai L2 tháo dỡ, di dời các tài sản là công trình trên đất với tổng giá trị tài sản di dời 290.457.174 đồng. Sau khi bà Phan Thị Thanh L4 hợp đồng tặng cho ông Trần Quốc L thửa đất số 551, tờ bản đồ 13, diện tích 575,25m2, vợ chồng ông L và bà L2 đã tạo lập các tài sản trên đất, các ông Phan Thị T1, bà Trần Thị H1, ông Trần Quốc K2, ông Trần Quốc H2, bà Trần Thị Cẩm H3, ông Trần Quốc H4, bà Trần Thị C1, ông Trần Quốc K1, ông Trần Quốc L1, bà Trần Thị C biết việc này và không có ý kiến phản đối. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông L, bà L2 tháo dỡ các tài sản trên đất, nhưng không xác định ai là người tạo lập tài sản trên đất để xem xét bồi thường giá trị tài sản trên đất cho ông L, bà L2 là không phù hợp. Thửa đất số 551 do ông L, bà L2 đang quản lý sử dụng, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm khi giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu chỉ tuyên tháo dỡ, di dời tài sản trên đất; mà không tuyên ông L, bà L2 có nghĩa vụ giao thửa đất số 551 cho ai quản lý sử dụng là giải quyết không triệt để và gây khó khăn cho công tác thi hành án.
[2.3] Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa số 551, tờ bản đồ 13 đã được cập nhật thay đổi chủ sử dụng đất ngày 16/8/2016, hiện được ông Trần Quốc L thế chấp vay vốn tại Ngân hàng S1 – Chi nhánh Đ. Hiện ông L chưa đến thời hạn trả nợ nên Ngân hàng không có tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án cấp sơ thẩm xác định hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 16/8/2016 giữa bên tặng cho là bà Phan Thị T1 và bên nhận tặng cho ông Trần Quốc L vô hiệu, nên các đương sự bà Phan Thị T1, bà Trần Thị H1, ông Trần Quốc K2, ông Trần Quốc H2, bà Trần Thị Cẩm H3, ông Trần Quốc H4, bà Trần Thị C1, ông Trần Quốc K1, ông Trần Quốc L1, ông Trần Quốc L, bà Trần Thị C có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để cấp, cấp đổi lại GCNQSDĐ và thực hiện nghĩa vụ tài chính nếu có khi làm thủ tục theo quy định pháp luật. Đồng thời tuyên Ngân hàng có quyền khởi kiện vụ án độc lập khác. Tuy nhiên, quyền sử dụng thửa đất số 551 cấp cho ông Trần Quốc L đã được xem xét chỉnh lý cho các đương sự trên trong vụ án này, Ngân hàng sẽ không có quyền khởi kiện đối với hợp đồng tín dụng vì đối tượng thế chấp là quyền sử dụng thửa đất số 551 đã được giải quyết bằng bản án có hiệu lực pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm không hướng dẫn Ngân hàng khởi kiện để giải quyết hợp đồng thế chấp trong cùng vụ án là gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng.
Xét thấy bản án sơ thẩm xác định thiếu người tham gia tố tụng, vi phạm quy định về trường hợp không được làm người đại diện, giải quyết vụ án không đảm bảo, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Do đó, cần chấp nhận đơn kháng cáo của ông Phan Minh H và bà Nguyễn Thị Mai L2, hủy bản án sơ thẩm để chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[3] Về án phí phúc thẩm: Do hủy bản án sơ thẩm nên người kháng cáo ông Trần Quốc L và bà Nguyễn Thị Mai L2 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Vì các lẽ trên;
[NGUỒN: Bản án số 05 /2026/DS-PT NGÀY 07/01/2026 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK]
LINK PDF: Bản án số 05/2026/DS-PT
………………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn