Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án tranh chấp tài sản thuộc sở hữu chung, di sản thừa kế, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án tranh chấp tài sản thuộc sở hữu chung, di sản thừa kế, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Quan hệ tranh chấp giữa các bên đã được Tòa án cấp sơ thẩm xác định theo đúng quy định của pháp luật; đơn kháng cáo của ông Phạm Văn T; Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng; thủ tục kháng cáo, kháng nghị được thực hiện theo đúng quy định tại các Điều 271, 272, 273, 278, 279 và 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự nên đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng và kháng cáo của ông Phạm Văn T thì thấy rằng:

[2.1] Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều thừa nhận diện tích đất 430m² thuộc thửa 246, tờ bản đồ số 9 tọa lạc tại đường Đ, Phường H, thành phố Đ (nay là phường L – Đ), tỉnh Lâm Đồng có nguồn gốc do cụ H2, cụ T4 tạo lập. Năm 1999 ông L1 đại diện gia đình kê khai diện tích đất trên và được Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P344474 ngày 24/9/1999 cho hộ ông Phạm Tấn L1.

[2.2] Theo biên bản họp phân chia cho em ngày 05/6/2006 (BL 44) có nội dung: “Mẹ già sức yếu làm biên bản này, giao căn nhà 499/47, đường NL, Phường H cho con út là Phạm Tấn L1, sinh năm 1966 trọn quyền sử dụng, lo thủ tục Nghị định 60 nhà ở đất ở, còn đất chung quanh 430m² mẹ cho Phạm Tấn L1 kê khai đã cấp số ngày 24/9/1999, các con đồng ý thỏa thuận ký tên: mẹ Dương Thị T4, con Phạm Đình T1, Phạm X, Phạm Đình D, Phạm Văn T”. Biên bản được Ủy ban nhân dân Phường H, thành phố Đ (nay là Phường L – Đ) xác nhận chữ ký thành viên gia đình

vào ngày 06/6/2006. Căn cứ vào biên bản này, ngày 12/02/2007 Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 839053 đứng tên ông Phạm Tấn L1. Trên cơ sở cấp đổi các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; ngày 19/12/2014 Ủy ban nhân dân thành phố Đ đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 017479 cho vợ chồng ông L1 và bà V được đứng tên trên.

Theo nguyên đơn trình bày thì các chữ ký trong biên bản họp phân chia cho em ngày 05/6/2006 là do ông L1 giả mạo chữ ký của các thành viên trong gia đình. Quá trình giải quyết vụ án, cả nguyên đơn và bị đơn không cung cấp được bản gốc biên bản nêu trên. Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ; kết quả thể hiện: tại Công văn số 329 ngày 08/4/2024 của Ủy ban nhân dân Phường H (nay là Phường L – Đ), tỉnh Lâm Đồng có nội dung “Qua kiểm tra hồ sơ chứng thực năm 2006 hiện còn lưu trữ tại Ủy ban nhân dân Phường H thì không có hồ sơ chứng thực Biên bản họp phân chia cho em ghi ngày 05/6/2006 của gia đình bà Dương Thị T4″ (BL 123); Biên bản họp phân chia cho em ngày 05/6/2006 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ cung cấp cho Tòa án là bản có chữ ký photo và được đóng dấu đỏ của Ủy ban nhân dân Phường H, thành phố Đ (nay là Phường L – Đ, tỉnh Lâm Đồng). Nguyên đơn yêu cầu giám định chữ ký trong biên bản nêu trên. Tuy nhiên, theo Công văn số 126 ngày 30/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L trả lời “Tài liệu này không thể giám định do chỉ có bản photo, không có bản gốc” (BL 132).

[2.3] Cấp sơ thẩm căn cứ khoản 9 Điều 3 Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ cho rằng đây là bản chính (bản được tạo ra từ bản có chữ ký trực tiếp của người có thẩm quyền và có đóng dấu của Ủy ban nhân dân Phường H) là không đúng; bởi lẽ theo quy định tại Điều 1 của Nghị định vừa viện dẫn thì “Phạm vi điều chỉnh” của “Nghị định này quy định về công tác văn thư và quản lý nhà nước về công tác văn thư. Công tác văn thư được quy định tại Nghị định này bao gồm: Soạn thảo, ký ban hành văn bản; quản lý văn bản; lập hồ sơ và nộp lưu hồ sơ, tài liệu vào Lưu trữ cơ quan; quản lý và sử dụng con dấu, thiết bị lưu khóa bí mật trong công tác văn thư”. Đối với việc chứng thực chữ ký tại thời điểm này (năm 2006) thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 56 Nghị định số 75/2000/NĐ – CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ quy định về công chứng, chứng thực mới phù hợp.

[2.4] Như vậy, Biên bản họp phân chia cho em ngày 05/6/2006 là căn cứ để ông L1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 12/02/2007 nhưng hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L1 không có bản chính hoặc bản được công chứng, chứng thực theo quy định mà chỉ là bản photo chữ ký của các thành viên gia đình ông T và được Ủy ban nhân dân Phường H, thành phố Đ (nay là Phường L – Đ) đóng dấu xác nhận. Trong khi đó, Ủy ban nhân dân Phường H trước kia cũng đã xác định không lưu hồ sơ chứng thực Biên bản họp phân chia cho em ghi ngày 05/6/2006 của gia đình cụ Dương Thị T4. Tuy nhiên, sau khi thu thập được chứng cứ tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ, Tòa án không tiến hành xác minh làm rõ Biên bản họp phân chia cho em ngày 05/6/2006 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ cung cấp có phải do Ủy ban nhân dân Phường H xác nhận hay không? Căn cứ nào Ủy ban nhân dân Phường H (nay là Phường L – Đ), tỉnh Lâm Đồng xác nhận, chứng thực đối với các chữ ký photo của các thành viên trong gia đình bà Dương Thị T4 trong biên bản này? Bởi lẽ theo các quy định về chứng thực, hoạt động chứng thực chữ ký chỉ áp dụng cho chữ ký tươi (chữ ký trực tiếp) nhằm xác nhận rằng chữ ký đó đúng là do người yêu cầu thực hiện trước mặt người có thẩm quyền. Cơ quan thẩm quyền cần chứng kiến trực tiếp người yêu cầu ký vào văn bản để xác nhận danh tính và ý chí của họ. Chữ ký phô tô chỉ là hình ảnh sao chép, không thể xác định được tính xác thực tại thời điểm chứng thực.

[2.3] Cấp sơ thẩm nhận định “Tuy ông T, ông X, ông D không thừa nhận chữ ký trong Biên bản họp phân chia cho em ngày 05/6/2006 nhưng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh đây không phải là chữ ký của mình” là không phù hợp bởi lẽ nguyên đơn không thừa nhận chữ ký của mình trong tài liệu vừa nêu; do bản chính không thu thập được nên Phòng K1 Công an tỉnh L đã có Công văn số 126/PC09 ngày 30/5/2024 từ chối giám định do chỉ có bản photo, không có bản gốc. Trong thực tế thì ông L1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất dựa trên Biên bản họp phân chia cho em nói trên nên trách nhiệm cung cấp chứng cứ phải thuộc về bị đơn và các con của vợ chồng ông L1, bà V; bởi lẽ nguyên đơn không thừa nhận có ký vào tài liệu này; trong khi tài liệu do Tòa án thu thập chỉ thể hiện các chữ ký phô tô nên không thể xuất trình bản chính hay chứng cứ khác cho Tòa án để chứng minh chữ ký phô tô trong biên bản không phải là chữ ký của mình được.

[2.5] Ngoài ra, nguyên đơn yêu cầu chia tài sản chung và chia di sản thừa thừa kế; Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào Biên bản họp phân chia cho em ngày 05/6/2006 để không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nói trên trong khi chưa làm rõ ý chí của các đồng thừa kế khác là có thiếu sót; làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Bên cạnh đó; nguyên đơn yêu cầu chia tài sản thuộc sở hữu chung đối với thửa đất có diện tích 430m² thuộc thửa 246, tờ bản đồ số 9, Đ, Phường H, thành phố Đ (nay là Phường L – Đ), tỉnh Lâm Đồng; chia di sản thừa kế của cụ Dương Thị T4 đối với diện tích đất nói trên; quá trình giải quyết vụ án cấp sơ thẩm đã yêu cầu cơ quan chức năng tiến hành đo vẽ; tuy nhiên theo họa đồ đo vẽ do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ (nay là khu vực Đ) thực hiện và được ký xác nhận ngày 05/12/2024 thì không thể hiện phần diện tích các bên tranh chấp thuộc vị trí nào mà lại tiến hành đo toàn bộ lô đất và thẩm định giá trên toàn bộ diện tích này (901,70m², trong đó có cả phần đất của gia đình bà V) là không đúng.

[3] Từ những phân tích trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm thủ tục tố tụng, chưa làm rõ những vấn đề vừa nêu; cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên cần chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng và kháng cáo của ông Phạm Văn T; hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung.

[4] Tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày hiện nay bà V cũng đang khởi kiện tranh chấp di sản thừa kế đối với khối di sản do ông L1 để lại theo đơn khởi kiện do bà V ký và nộp cho Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng) vào ngày 06/5/2019; trong đó có phần tài sản mà các bên đang tranh chấp trong vụ án này {thửa đất có diện tích 829,84m² thuộc thửa 246, tờ bản đồ số 9, Đ, Phường H, thành phố Đ (nay là Phường L – Đ), tỉnh Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 017479 do Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp ngày 19/12/2014}; đã được Tòa án tiến hành thụ lý theo Thông báo số 135/TB-TLVA ngày 14/6/2019, do vậy khi thụ lý lại vụ án; cấp sơ thẩm cần phải nhập vụ án nói trên vào vụ án này để tiến hành giải quyết cho triệt để; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.

[5] Về chi phí tố tụng: Sẽ được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.

[6] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên ông T không phải chịu án phí Dân sự phúc thẩm.

[NGUỒN: Bản án số 185/2026/DS-PT NGÀY 30/3/2026 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG]

LINK PDF: Bản án số 185/2026/DS-PT

………………….

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan