
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Nguyên đơn ông Nguyễn Quốc T khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị G trả lại quyền sử dụng đất diện tích 800m² mà bà G đã lấn chiếm do có hành vi thay đổi ranh đất, yêu cầu Tòa án tuyên buộc bà G chấm dứt hành vi thay đổi vị trí ranh đất giữa 02 bên.
Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, ông T nêu nguồn gốc các thửa đất có phần đất tranh chấp như sau: Ngày 09/6/2017 ông T nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Tấn H và bà Phan Thị G1 Lớn thửa đất số 14A, 35 diện tích 2.810m² tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Việc chuyển nhượng đã thực hiện đúng quy định pháp luật, các bên đã thực hiện xong giao dịch. Ông T đã nhận đất, cắm ranh mốc và rào xung quanh phần đất. Ngày 17/9/2017, Sở T cấp Giấy chứng nhận số CI 366568 với diện tích 790m²; Giấy chứng nhận số CI 366569 với diện tích 2.020m² cho ông T.
Trước khi thực hiện giao dịch với ông H và bà Gái L thì ông T được biết nguồn gốc phần đất trước đó là của ông Nguyễn Thanh V (anh trai của bị đơn) sang nhượng cho bà Bùi Thị O vào năm 2004. Tiếp theo đó vào ngày 05/01/2017 bà O làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông H và bà Gái L, sau đó ông H và bà Gái L chuyển nhượng cho ông T.
[2.2] Bị đơn bà Nguyễn Thị G không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và có yêu cầu phản tố, đề nghị Tòa án hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn.
Bà G trình bày: Nguồn gốc phần diện tích đất mà nguyên đơn đang tranh chấp là một phần đất của bà Nguyễn Thị B (mẹ của bị đơn và ông Nguyễn Thanh V) chết để lại cho bị đơn và ông V. Trong đó, bà G được chia ½ và tự mua thêm 1.000m². Ngày 17/02/2004, bà G được cấp Giấy chứng nhận quyền sửdụng đất số W 700505. Ông V được chia phần đất có diện tích 7.265m² (gồm đất ở và đất trồng cây hàng năm), được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 700506 ngày 17/02/2004.
Đối với đất của ông V thì ông V sản xuất, canh tác trên đất nhưng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 700506 ngày 17/02/2004 mang tên Nguyễn Thanh V, bà G vẫn giữ. Bà và các cậu Nguyễn Văn M, Nguyễn Tấn T2 không ký giấy chuyển nhượng cho ai, và không biết bằng cách nào Ủy ban nhân dân thành phố P lại cấp nhưng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA 428003 ngày 10/09/2004 mang tên bà Bùi Thị O với diện tích 2.810m² gồm: thừa 14A diện tích 2.020m² đất cây lâu năm và thửa 35A diện tích 790m² đất cây hàng năm, tờ bản đồ số 21 tọa lạc tại thôn T, xã T, thành phố P với lý do nhận quyền chuyển nhượng của ông V.
Năm 2013, ông Nguyễn Thanh V chết có giấy báo tử ngày 05/02/2013 do xã T xác nhận. Sau khi ông V chết, bà G quản lý toàn bộ khu đất. Năm 2017, bà G phát hiện khu đất của bà và ông V bị san ủi làm mất 10 cây đào 20 năm tuổi, mất cột mốc, bà có báo Ủy ban nhân dân xã T thì nhận được giấy mời số 25/GM-CNVPDĐ ngày 17/02/2017 mời ông Nguyễn Thanh V đến Ủy ban nhân dân xã T để phối hợp kiểm tra, xác minh việc tách thửa chỉnh lý biến động trước đây của ông Nguyễn Thanh V và bà Bùi Thị O, bản thân bà cũng không biết bà O là ai, nhưng sau khi nhận giấy mời, bà có gặp ông Nguyễn Ngọc Đ (Cán bộ tư pháp xã T) báo ông V đã chết năm 2013, mà mời ông Vũ S1 đi được, ông Đ trả lời mời ông V nhưng bà đi đại diện đem Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 700506 ngày 17/02/2004 mang tên Nguyễn Thanh V đến để chỉnh lý cột mốc cho phù hợp; Vì vậy nên bà chấp hành và đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 700506 ngày 17/02/2004 mang tên Nguyễn Thanh V cho ông Nguyễn Ngọc Đ. Sau đó ông Đ trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 700506 ngày 17/02/2004 mang tên Nguyễn Thanh V có ghi chỉnh lý diện tích đất giảm của ông V sang bà O 2.810m² gồm: thửa 14A diện tích 2020m² đất cây lâu năm và thửa 35A diện tích 790m² đất cây hàng năm, tờ bản đồ số 21.
[3] Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ vào lời trình bày nêu trên thì nguồn gốc phần đất tranh chấp nguyên đơn có được là từ các giao dịch chuyển quyền sử dụng đất. Do đó, để có đủ căn cứ xem xét nguyên đơn có quyền sử dụng đối phần đất tranh chấp không, thì phải xác định các giao dịch dân sự liên quan đến quyền sử dụng phần đất trên do nguyên đơn đã thực hiện có đủ điều kiện được công nhận hiệu lực theo quy định pháp luật. Từ đó mới có thể xác định các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp là đúng hay sai? Nếu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp sai thì là do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, hay do các giao dịch dân sự không đúng quy định pháp luật vì theo quy định tại Điều 152 Luật đất đai năm 2024 (Điều 106 Luật đất đai năm 2013) thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp thông qua giao dịch dân sự chỉ bị hủy bỏ, thu hồi theo kết quả của việc giải quyết tranh chấp trong giao dịch dân sự? Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm chưa nhận định đánh giá hiệu lực của các giao dịch về quyền sử dụng đất và không đưa những người đã thực hiện giao dịch dân sự vào tham gia tổ tụng; chưa thực hiện việc đo vẽ, áp thửa với các thửa đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, để xác định vị trí phần diện tích đất tranh chấp là thuộc thửa đất số mấy và được tách ra từ thửa đất nào là chưa đủ căn cứ để giải quyết vụ án.
Hơn nữa, theo lời khai của bị đơn (bà G) thì phần đất đang tranh chấp không thuộc quản lý, sử dụng của bà mà là của anh trai bà (do được mẹ chia thừa kế). Do đó, cần thiết phải xem xét lại tư cách tham gia tố tụng của bà G để xác định yêu cầu đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông T của bà G có phải là yêu cầu phản tố?
[4] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã có thiếu sót về tố tụng gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xửphúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa; Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn; Hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án về cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định pháp luật.
[5] Bản án sơ thẩm bị hủy do có vi phạm tố tụng nên Hội đồng xét xửchưa xem xét đến nội dung vụ án.
[6] Án phí dân sự phúc thẩm: Do hủy Bản án sơ thẩm nên người có kháng cáo không phải chịu.
Nguyễn Thị Thùy L1; Sửa khách quan một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 393/2025/DSST ngày 27/9/2025 của Tòa ánnhân dân khu vực 1 – Đồng Nai về giá trị quyền sử dụng đất và án phí dân sự sơ thẩm.
[3]. Các quyết định khác của Bảnán sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật
[4]. Về án phí:
– Về án phí dân sự sơ thẩm: Do sửa một phần về phần giá trị quyền sử dụng đất nên phần án phí dân sự sơ thẩm bà M phải chịu là 82.418.680đ (tám mươi hai triệu, bốn trăm mười tám nghìn, sáu trăm tám mươi đồng).
– Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bà M và chị L1 không được chấp nhận nên mỗi người phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000đ được trừ vào số tiền tạm ứng án phí kháng cáo đã nộp (bà M và chị L1 đã nộp xong).
[5]. Quan điểm và đề nghị của Việnkiểm sát nhân dân tỉnh Đ tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.
[6]. Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị đơn không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, không có căn cứ nên được ghi nhận.
[NGUỒN: Bản án số 701/2025/DS-PT NGÀY 29/12/2025 CỦA TÒA PHÚC THẨM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]
LINK PDF: Bản án số 701/2025/DS-PT
………………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn