Feel free to go with the truth

Trang chủ / Nghiên cứu học tập / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án tranh chấp QSDĐ vì xác định thiếu người tham gia tố tụng, giải quyết chưa triệt để, tuyên án không rõ và tính sai án phí

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án tranh chấp QSDĐ vì xác định thiếu người tham gia tố tụng, giải quyết chưa triệt để, tuyên án không rõ và tính sai án phí

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ các tài liệu chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Lắk kháng nghị trong thời hạn luật định. Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Minh T và bị đơn bà Trần Thị Kim H làm trong hạn luật định đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về nguồn gốc đất:

– Đối với diện tích đất do bà H đang quản lý, sử dụng gồm:

(1) thửa đất số 523, tờ bản đồ số 3, diện tích 220m2, tại xã E, huyện Đ, được tách từ thửa đất số 19 của bà Huỳnh Thị L1 (mẹ ruột của bà H) đã được UBND huyện Buôn Đôn cấp Giấy CNQSD đất số W 821163 ngày 28/11/2003 cho bà Trần Thị Kim H, diện tích 220m2.

(2) Diện tích đất tiếp giáp với thửa đất số 523 có chiều ngang khoảng 3m và chiều dài khoảng 44m. Bà H trình bày diện tích phía sau này thuộc thửa đất số 19 của bà L1, bà L1 chết năm 2007 chưa kịp làm thủ tục cấp Giấy CNQSD đất đối với diện tích này cho bà H.

– Đối với diện tích ông T đang quản lý, sử dụng: Năm 2008 bà Nguyễn Thị V chuyển nhượng cho ông T thửa số 519, tờ bản đồ số 3, tại xã E, huyện Đ, đã được UBND huyện Buôn Đôn cấp Giấy CNQSD đất số AN 745019 ngày 20/5/2009 cho ông Lê Minh T, với diện tích là 220m2.

[2.2] Xét diện tích đất tranh chấp:

Theo kết quả đo đạc thì diện tích đất tranh chấp là 22,53m2, có vị trí: cạnh phía Bắc giáp ông Lê Minh T 32,68m. Cạnh phía Nam giáp bà Trần Thị Kim H dài 32,7m. Cạnh phía Đông giáp đất bà Trần Thị Kim H dài 1,37m. Cạnh phía Tây đoạn từ tim đường vào 23,7m giáp đất bà Trần Thị Kim H 0,3m; thuộc thửa 523, tờ bản đồ số 03 tại thôn 9, xã E, huyện Đ, tỉnh Đắk Lắk.

Bà H khởi kiện yêu cầu ông T trả diện tích đất 53,4m2 và kháng cáo phần nội dung bản án sơ thẩm chỉ tuyên buộc ông T trả lại 22,53m2. Bà H cho rằng ông T lấn chiếm vì diện tích đất trong Giấy CNQSDĐ cấp cho hộ ông T là 220m2 (theo nguyên đơn thì đất có chiều ngang là 5m, chiều dài 44m) nhưng tại kết quả đo đạc hiện trạng do địa chính xã B thực hiện thì diện tích đất của hộ ông T là 273,4m2 lớn hơn diện tích trong Giấy CNQSDĐ cấp cho hộ ông T nên bà H yêu cầu ông T sử dụng đúng diện tích 220m2.

Theo kết quả xác minh tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Buôn Đôn thể hiện: Qua kết quả trên Giấy CNQSDĐ đối với thửa 519, tờ bản đồ số 3 đứng tên hộ ông Lê Minh T có hình chữ nhật, chiều ngang khoảng 6m, chiều dài khoảng 44m. Đối với thửa đất 523, tờ bản đồ 3 mang tên bà Trần Thị Kim H có hình chữ nhật, chiều ngang khoảng 5m, chiều dài khoảng 42m. Ngoài ra Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Buôn Đôn có Công văn trả lời thể hiện: Hồ sơ tách thửa đối với thửa đất số 19, tờ bản đồ số 3 của bà Huỳnh Thị L1, hiện chưa tìm thấy hồ sơ tách thửa chuyển quyền đối với Giấy CNQSDĐ trên, do hồ sơ địa chính qua các thời kỳ lưu trữ không đầy đủ. Tuy nhiên Tòa án chưa tiến hành thu thập và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc lồng ghép hiện trạng sử dụng đất tranh chấp vào bản đồ địa chính để xác định vị trí, diện tích đất tranh chấp.

[2.3] Đối với phần diện tích ngang 3m, dài 44m hiện đang do bà H quản lý chưa được cấp Giấy CNQSD đất:

Tại kết quả xem xét thẩm định thể hiện: Thửa đất bà Trần Thị Kim H đang sử dụng có tứ cận phía Đông giáp đất bà H là 6,48m, phía Tây giáp đường tỉnh lộ là 7,55m, phía Bắc giáp đất ông T là 45,8m; thửa đất gồm: Thửa đất số 523, tờ bản đồ 03 và 01 thửa đất có chiều ngang khoảng 3m, chiều dài khoảng 44m.

Theo trình bày của bà H thì nguồn gốc thửa đất tranh chấp do mẹ bà H là bà Huỳnh Thị L1 để lại cho bà H, nhưng bà L1 chết chưa làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho bà H. Tuy nhiên quá trình giải quyết Tòa án cấp sơ thẩm không đưa những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà L1 tham gia là xác định thiếu người tham gia tố tụng.

[2.4] Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm chưa đo đạc phần diện tích các thửa đất có liên quan để xác định phần diện tích đất đang tranh chấp và tài sản trên phần đất tranh chấp, chưa xác minh yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cung cấp trích lục bản đồ thửa đất tranh chấp để làm căn cứ giải quyết vụ án.

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả 53,4m2. Án sơ thẩm tuyên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông T bà T1 trả diện tích đất 22,53m2, nhưng không tuyên rõ đối với diện tích không được chấp nhận. Đồng thời Tòa án cấp sơ thẩm không giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà H về việc buộc ông T tháo dỡ công trình xây dựng lấn chiếm trên đất để trả lại diện tích đất lấn chiếm là giải quyết vụ án chưa triệt để.

Về phần án phí: Đây là vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất phải xác định giá trị tài sản theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm định giá và buộc ông T phải chịu án phí có giá ngạch là 5.047.200 đồng đối với một phần diện tích được chấp nhận là có cơ sở. Tuy nhiên đối với một phần yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận 30,87m2, do Tòa án không tuyên không chấp nhận đối với phần diện tích này nên không buộc nguyên đơn bà H phải chịu án phí có giá ngạch đối với phần diện tích không được chấp nhận là không đúng quy định tại khoản 1 Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xác định thiếu người tham gia tố tụng, thu thập tài liệu chứng cứ chưa đầy đủ, giải quyết vụ án chưa triệt để, tuyên án không rõ, tính sai án phí, những thiếu sót này của cấp sơ thẩm thì tại cấp phúc thẩm không thể khắc phục được.

Từ những lập luận trên xét thấy có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị Kim H và ông Lê Minh T, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng VKSND huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk (nay là VKSND khu vực 2 – Đắk Lắk): Hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho cấp sơ thẩm để xem xét, giải quyết lại theo quy định.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên nguyên đơn và bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[Nguồn: Bản án số 349/2025/DS-PT ngày 15/9/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

Xem file đính kèm toàn văn Bản án số: 349/2025/DS-PT

………………….

Luật sư FDVN

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan