
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn ông Võ Thanh P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1 đều vắng mặt; Luật sư Nguyễn Hương Q1 và bà Nguyễn Thị Thùy D đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bà Nguyễn Thị Bích L2, bà Nguyễn Thị Y và bà Nguyễn Thị T1 đã được triệu tập nhưng không hợp lệ theo quy định của pháp luật. Phiên toà mở lần thứ hai, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án. Căn cứ vào Điều 296 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án.
[2] Xét Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 32/QĐ-VKS-DS ngày 20/5/2024 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị L; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn L1, ông Nguyễn T, bà Nguyễn Thị Thùy D, bà Nguyễn Thị T1, bà Nguyễn Thị Bích L2, Hội đồng xét xử thấy:
[2.1] Về nguồn gốc thửa đất tranh chấp: nguyên đơn ông Võ Thanh P cho rằng thửa đất số 181, tờ bản đồ số 105-ĐC, diện tích 1.529,9m2 toạ lạc tại thôn C, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên là một phần của thửa đất mà ông nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Tri N, bà Nguyễn Thị T2 (là cha, mẹ ông) vào ngày 31/10/1988. Khi vợ chồng ông làm thủ tục đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà Nguyễn Thị L có đơn đề nghị tạm dừng. Vì vậy, ông yêu cầu Toà án tuyên buộc bà L chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất hợp pháp của gia đình ông để vợ chồng ông tiếp tục đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngược lại, bị đơn bà Nguyễn Thị L thì cho rằng thửa đất nêu trên là tài sản của ông Nguyễn Tri N, bà Nguyễn Thị T2 (là cha, mẹ bà) để lại nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Võ Thanh P. Đồng thời, bà L có Đơn yêu cầu phản tố về việc chia di sản thừa kế theo pháp luật. Toà án cấp sơ thẩm tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Thanh P, buộc bị đơn bà Nguyễn Thị L chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất hợp pháp của vợ chồng ông P; vợ chồng ông P được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền tiếp tục đăng ký kê khai để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 181 nêu trên.
[2.2] Về xác định quan hệ tranh chấp: tại Đơn khởi kiện đề ngày 02/4/2022, ông Võ Thanh P yêu cầu bà Nguyễn Thị L chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất, diện tích 1.529,9m2 và yêu cầu Toà án công nhận diện tích đất này cho vợ chồng ông. Toà án nhân dân thị xã Sông Cầu thụ lý vụ án dân sự về việc tranh chấp quyền sử dụng đất. Ngày 16/6/2023, bà Nguyễn Thị L có Đơn yêu cầu phản tố yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với diện tích đất 1.529,9m2 do cha, mẹ bà (ông Nguyễn Tri N, bà Nguyễn Thị T2) để lại. Do bà Nguyễn Thị Bích L2, bà Nguyễn Thị Y, bà Nguyễn Thị T1 đều đang định cư ở nước ngoài nên Toà án nhân dân thị xã Sông Cầu chuyển hồ sơ vụ án đến Toà án nhân dân tỉnh Phú Yên theo thẩm quyền. Toà án nhân dân tỉnh Phú Yên thụ lý vụ án về tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp di sản thừa kế, nhưng không thông báo cho bị đơn bà Nguyễn Thị L biết để đến Toà án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm. Việc Toà án cấp sơ thẩm không thông báo cho bà Nguyễn Thị L biết để nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đối với yêu cầu phản tố là vi phạm thủ tục tố tụng theo quy định tại khoản 1 Điều 146, Điều 195 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, khoản 1 Điều 25 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
[2.3] Quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ thẩm có đưa bà Nguyễn Thị Bích L2, bà Nguyễn Thị Y và bà Nguyễn Thị T1 (là con của ông Nguyễn Tri N và bà Nguyễn Thị T2) tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (đều đang định cư ở nước ngoài) nhưng không triệu tập và cũng không tiến hành các thủ tục lấy lời khai của những người này là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
[2.4] Toà án cấp sơ thẩm nhận định bị đơn bà Nguyễn Thị L có đơn phản tố, nhưng không thực hiện nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm nên không xem xét, nhưng lại phân tích, đánh giá yêu cầu phản tố của bà L về việc yêu cầu chia di sản thừa kế. Phân tích, đánh giá này của cấp sơ thẩm là không đúng pháp luật. Mặt khác, Toà án cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh nguồn gốc diện tích đất tranh chấp là di sản thừa kế của cha, mẹ các bên để lại, hay đã chuyển nhượng cho nguyên đơn ông Võ Thanh P, nhưng lại xác định diện tích đất tranh chấp không phải là di sản thừa kế của ông Nguyễn Tri N và bà Nguyễn Thị T2, là không khách quan.
[3] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ thẩm có nhiều sai sót về thủ tục tố tụng cũng như về đường lối giải quyết vụ án. Những sai sót này, cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 32/QĐ-VKS-DS ngày 20/5/2024 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn L1, ông Nguyễn T, bà Nguyễn Thị Thùy D, bà Nguyễn Thị T1, bà Nguyễn Thị Bích L2; huỷ Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 19/4/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Phú Yên và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[4] Án phí dân sự phúc thẩm: do Bản án dân sự sơ thẩm bị huỷ để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm nên các đương sự kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn L1, ông Nguyễn T, bà Nguyễn Thị Thùy D, bà Nguyễn Thị T1, bà Nguyễn Thị Bích L2 số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp.
[Nguồn: Bản án số 265/2025/DS-PT ngày 11/6/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG]
Xem file đính kèm toàn văn Bản án số: 265/2025/DS-PT
………………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn