
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Ông Nguyễn Tấn Đ, Nguyễn Thành P, Nguyễn Thành T3, bà Nguyễn Thị Ngọc P2 nộp đơn kháng cáo trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục tố tụng phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[2] Về yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo, yêu cầu phản tố của các đương sự. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
– Về xác định tư cách tham gia tố tụng và yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ: Phần đất tranh chấp bị đơn cho rằng bà C cho bà D, sau đó bà D chuyển nhượng phần đất này cho ông T1. Bà Nguyễn Ngọc D đã chết ngày 05/02/1995, chồng bà D là ông Nguyễn Văn H1 đã chết ngày 23/6/1980. Căn cứ nội dung trả lời xác minh của Công an xã B, Tòa án đưa những người thừa kế của bà D gồm ông Trần Ngọc S, bà Trần Thị Thùy V, bà Trần Thị Thùy T7 tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là đúng. Cấp sơ thẩm đã gửi giấy triệu tập nhưng không có sự tham gia tố tụng để làm rõ các nội dung liên quan chuyển nhượng đất giữa bà D và ông T1 có hay không, vị trí nào?
Tại cấp phúc thẩm có nhận được bản tự khai (gởi bưu điện) của anh Trần Ngọc S (con bà D) có địa chỉ cư trú hiện nay. Do đó, cần đưa các con của bà D thực hiện các thủ tục tố tụng như đối chất, cung cấp thông tin để thu thập chứng cứ giám định chữ ký, chữ viết của bà D trong “Giấy sang nhượng” do bà D lập ngày 06/12/1990 nhượng cho ông T1 1.500m2 tại ấp B, xã B, huyện B với giá tiền là 10 chỉ vàng 24k (tại phiên tòa phúc thẩm ông T1 khẳng định chữ ký và chữ viết của bà D). Kết quả giám định là một trong những căn cứ để bảo vệ quyền lợi cho ông T1.
Cấp sơ thẩm chưa yêu cầu Cơ quan cấp giấy chứng nhận trả lời nội dung: đất lúa tại thời điểm 1993 (thời điểm ông T1 nhận chuyển chuyển nhượng của bà D) đến năm 1995 (thời điểm cấp giấy chứng nhận cho bà C) thì đất lúa có được chuyển nhượng giữa các cá nhân với nhau không và ông T1 có thuộc trường hợp được nhận chuyển nhượng và canh tác không? Ông T1 xây dựng nhà trên đất lúa (tại thời điểm xây chưa được chuyển đổi mục đích sử dụng) thì có coi là hợp pháp không?
Cần xác minh làm rõ nếu bà D được bà C cho 1.500m² đất lúa thì tại sao tài liệu 299/ttg bà D lại kê khai 1.952m² đất thổ
Đăng ký theo Chỉ thị 02, bà Nguyễn Thị C lại đăng ký toàn bộ thửa 317.
Khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND huyện B căn cứ tài liệu 299/ttg hay theo chỉ thị 02 ?
– Xác minh tại địa phương ở thời điểm năm 1994 – 1995: Theo Quyết định 150/QĐ-UBND ngày 30/5/1995 của UBND xã B và Công văn 7654/CNBC-LT ngày 06/9/2023 của Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện B thì vào năm 1995 bà C và bà D đều đã được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ: Bà Nguyễn Ngọc D được cấp GCN đối với 10.728m² gồm các thửa 87, 88, 89, 237, 238, 252, 250 tờ bản đồ số 8 tại xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thì có đất ruộng 15.000m² hay không?; Bà Nguyễn Thị C được cấp GCN đối với 11.627m² thuộc các thửa 234, 235, 236, 317 cùng tờ bản đồ số 3 tại xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thì diện tích đất có chênh lệch với diện tích đất kê khai trước đó không?
Ngày 09/06/2004, đại diện thừa kế của bà C (ông Nguyễn Tấn Đ, ông Nguyễn Thành P) và bà D (ông Trần Ngọc S, bà Trần Thị Thùy V, bà Trần Thị Thùy T7) đã lập Giấy thỏa thuận về việc hoán đổi đất. Theo Giấy thỏa thuận ngày 09/06/2004 các con của bà D và bà C đã thừa nhận có việc hoán đổi đất. Yêu cầu đương sự nộp bản chính tài liệu chứng cứ này và triệu tập các bên tham gia để thực hiện thủ tục tố tụng đối chất theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
– Xác minh tại cơ quan thuế về việc nộp thuế sử dụng đất hàng năm thì ông T1 nộp thuế cho thửa đất nào, loại đất? Bà C, ông Đ nộp thuế cho những thửa đất nào theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà C và sau này là ông Đ.
Cấp sơ thẩm nhận định: Căn cứ tài liệu chứng cứ là Bảng kê khai công trình xây dựng vi phạm xin được tồn tại theo Quyết định 39/2005/QĐ-TTg ngày 28/02/2005 của Thủ tướng Chính phủ do ông Nguyễn Bá T1 lập ngày 03/3/2006, được UBND xã B xác nhận ngày 03/5/2006 xác nhận ông Nguyễn Bá T1 là chủ đầu tư (chủ sử dụng) công trình nhà ở tại thời điểm kê khai nêu trên, có thời điểm xây dựng và thời điểm hoàn thành công trình là năm 1990 là có mâu thuẫn về thời gian? (Ủy ban lập vi phạm về xây dựng năm 2005 mà lại nhận định công trình hoàn thành từ 1990).
– Nhận định bà D sử dụng đất từ năm từ 1960 (mục 2.9 trang 21 án sơ thẩm), đăng ký kê khai đất đai theo Chỉ thị 299/TTg, sau đó bà D chuyển nhượng cho ông T1 năm 1990, mâu thuẫn về thời gian bà C có đơn xin đăng ký quyền sử dụng ruộng đất (do bà Nguyễn Thị C lập ngày 28/10/1994) và được UBND xã B xác nhận đất có nguồn gốc do bà Nguyễn Thị S2 để lại cho con năm 1965. Theo cấp sơ thẩm nhận định thì bà D sử dụng đất từ năm 1960 (trước 05 năm kể từ khi bà S2 là mẹ bà C cho con là bà C đất) là có mâu thuẫn.
Đối với yêu cầu của bị đơn về việc yêu cầu hủy GCNQSDĐ số 404/QSDĐ/Q1 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 16/7/2002 cho hộ ông Nguyễn Tấn Đ đối với phần đất tranh chấp thuộc thửa 317 tờ bản đồ 03 tọa lạc tại xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Cấp sơ thẩm nhận định: “…Luật đất đai năm 2013 không quy định về việc hủy GCNQSDĐ trong trường hợp này. Trong các trường hợp này, sau khi Tòa ản ban hành bản án, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai thì Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài nguyên và Môi trường căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại GCNQSDĐ phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án” là chưa đúng với quy định tại Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về Thẩm quyền của Tòa án, giải đáp số 02/GĐ-TANDTC ngày 19/9/2016 về tố tụng hành chính và tố tụng dân sự.
Tại cấp phúc thẩm bị đơn xuất trình văn bản ý kiến của ông Nguyễn Thanh G, nguyên trưởng ấp B xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Nội dung có biết việc liên quan mua bán đất của bà Nguyễn Ngọc D. Do đó, cần đưa ông G tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng. Ông G làm trưởng ấp từ thời gian nào, các nội dung chứng kiến việc chuyển nhượng đất của bà D với ông T1 là đất gì, vị trí, diện tích, hiện trạng tài sản trên đất khi chuyển nhượng và các biến động trong quá trình sử dụng đất?
– Tại phiên tòa phúc thẩm người bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn, bị đơn đều thừa nhận án sơ thẩm đã quyết định (mục 3) chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, công nhận quyền sử dụng đất 1.500m² đất theo bản đồ hiện trạng ngày 15/3/2021 thì toàn bộ vị trí đất này nằm bên trong đất của nguyên đơn, không có lối đi ra. Người bảo vệ quyền lợi cho bị đơn cho rằng bị đơn có quyền khởi kiện vụ án khác về quyền mở lối đi. Như vậy là không có tính khả thi, không thi hành án được.
Căn cứ các thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho nguyên đơn thì có 02 thửa đất 234, 236 mục đích sử dụng 2L, có thời hạn; 01 thửa 317 mục đích sử dụng TV, thời hạn sử dụng ổn định; 01 thửa 235 mục đích sử dụng Ao, có thời hạn. Các thửa đất này, thể hiện trên bản đồ hiện trạng thì vị trí nhà ông T1 đang sử dụng là đất Vườn (thửa 317). Do đó, cần làm rõ có bao nhiêu m² nằm trên đất vườn, tại sao ông T1 nhận nhượng đất của bà D là đất ruộng mà thực tế lại sử dụng trên đất vườn của bà C?
Từ những nhận định trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã chưa thực hiện hết các thủ tục tố tụng, thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, dẫn tới việc đánh giá chứng cứ còn nhiều mâu thuẫn và chưa đủ cơ sở để giải quyết toàn bộ nội dung vụ án. Tại cấp phúc thẩm các bên đương sự xuất trình thêm tài liệu chứng cứ mới cần xác minh làm rõ.
Vì vậy, cần chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, người có quyền và nghĩa vụ liên quan (ông P, ông T3, bà P2); hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Về án phí: Do hủy án sơ thẩm nên các đương sự kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[NGUỒN: BẢN ÁN SỐ 455/2025/DS-PT NGÀY 13/5/2025 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]
LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 455/2025/DS-PT
………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn