Feel free to go with the truth

Trang chủ / Nghiên cứu học tập / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án tranh chấp hợp đồng tặng cho và công nhận QSDĐ do Tòa sơ thẩm thu thập chứng cứ không đầy đủ và có những vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án tranh chấp hợp đồng tặng cho và công nhận QSDĐ do Tòa sơ thẩm thu thập chứng cứ không đầy đủ và có những vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T3 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Hội đồng tiến hành xét xử vắng mặt đương sự trên theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Tòa án cấp sơ thẩm đã ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử và mở phiên tòa lần thứ nhất vào ngày 28/3/2025. Tuy nhiên, việc Tòa án cấp sơ thẩm đã không thực hiện việc tống đạt hợp lệ giấy triệu tập cũng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bà Lê Thị T2, người được xác định là một trong những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Huỳnh Văn Ý, là vi phạm quy định tại các Điều 170, 171, 172, 173, 175 và 177 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Tài sản tranh chấp là quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 670, tờ bản đồ số 48, tại xã B, huyện T (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh) được cấp cho ông Huỳnh Văn Ý vào ngày 24/6/2005 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00115. Xét, ông Huỳnh Văn Ý và bà Lê Thị T2 chung sống với nhau như vợ chồng từ trước năm 1986, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm đã không đưa bà T2 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để làm rõ khối tài sản này là tài sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng của ông Ý. Sau khi ông Huỳnh Văn Ý chết vào ngày 24/9/2024, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng gồm bà T2, ông S và bà S1. Tuy nhiên, không tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ để bà T2 cũng như những hàng thừa kế ông Ý biết về chứng cứ thực hiện các quyền của mình và Tòa án cấp sơ thẩm cũng không lấy lời khai để làm rõ hàng thừa kế của ông Ý. Việc này đã làm mất quyền được biết về các tài liệu, chứng cứ của vụ án và trình bày ý kiến của những người thừa kế. Tại cấp phúc thẩm, các đương sự đã cung cấp bản sao giấy khai sinh, chứng minh ông Ý còn có một người con khác là bà Lê Thị T5. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong việc xác định thiếu tư cách đương sự của bà T2, xác định không đầy đủ hàng thừa kế thứ nhất của ông Ý và không tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ để những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn thực hiện các quyền của mình. Việc này đã ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự, làm mất quyền chứng minh của đương sự. Việc xác định thiếu hàng thừa kế dẫn đến Tòa án cấp sơ thẩm tuyên về quyền đối với phần diện tích đất còn lại của thửa 670 cũng như việc nhận giá trị thanh toán tài sản là ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của bà Lê Thị T5. Những vi phạm tố tụng này, Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được vì không đảm bảo quy định tại Điều 17 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Về nội dung, bà Huỳnh Thị T khởi kiện yêu cầu công nhận “Giấy ủy quyền cho đất” ngày 26/8/1995 giữa bên ủy quyền là bà Nguyễn Thị G, ông Huỳnh Văn Ý và bên nhận ủy quyền là bà Huỳnh Thị T. Tại Giấy ủy quyền cho đất” trên thể hiện: “nguyên chúng tôi đang trực tiếp quản lý và đứng tên phần đất có diện tích 5.000m² , tọa lạc tại ấp I, xã B, huyện T, tỉnh Sông Bé” và có thể hiện tứ cận khu đất (kèm sơ đồ xác định ranh giới đất). Ông Ý không thừa nhận giấy ủy quyền trên và cho là giả tạo, ngày ký là 26/8/1995 nhưng ngày xác nhận là 16/9/1995 và cho rằng không ký giấy trên và có yêu cầu giám định nhưng không được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét. Như vậy, theo “Giấy ủy quyền” không thể hiện số thửa, số tờ bản đồ nhưng theo nội dung ủy quyền xác định bà G, ông Ý được đứng tên trên diện tích đất. Tòa án cấp sơ thẩm không xác minh làm rõ thửa 670 có phải là phần đất đang tranh chấp không, vì theo tứ cận đất tại “Giấy ủy quyền” thể hiện phía Bắc giáp đất ông Út P, tuy nhiên bản đồ thể hiện là thửa 664 của ông Ý và cách thửa 664 là đường đất. Cạnh hướng Đông giáp đường đất nhưng “Giấy ủy quyền” ghi đất ông Tám Đ1 Đợi và hai cạnh còn lại hiện tại cũng không như tại “Giấy ủy quyền”. Đồng thời, cấp sơ thẩm cũng chưa làm rõ thời điểm năm 1995 khi bà G lập tờ ủy quyền trên, chồng bà G còn sống hay đã chết, tài sản bà G định đoạt theo tờ ủy quyền là của bà G hay tài sản chung vợ chồng bà G, bà G hay chồng bà G có đăng ký, kê khai theo Chỉ thị 299 hoặc đăng ký kê khai qua các thời kỳ đối với thửa 670 không, và ngoài ra có đăng ký, kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất nào khác không, để từ đó xem xét thửa đất được tặng cho, xem xét đánh giá tính hiệu lực của “Giấy ủy quyền cho đất” trên.

[5] Theo kết quả đo đạc tại Mảnh trích đo địa chính ngày 29/6/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện B thì phần diện tích tranh chấp là 4.595,9m² là một phần của thửa 670 (trong đó phần diện tích thuộc thửa 670 có diện tích là 4.106,2m²; diện tích 93,7m² thuộc một phần thửa 849 đã được đo đạc chỉnh lý năm 2017; diện tích 95,4m² đã chỉnh giảm từ thửa 663; diện tích 65m² thuộc thửa 671 và diện tích 235,6m² theo bản đồ địa chính là đường đất). Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành đo đạc toàn bộ diện tích thửa 670, làm rõ các phần diện tích đất giảm thửa, đường đất để xác định diện tích thửa 670 cũng như số đo các cạnh theo diện tích 4.106,2m². Đồng thời, Tòa án cấp sơ thẩm công nhận quyền sử dụng đất, buộc nguyên đơn thanh toán giá trị cây trồng cho những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn nhưng lại không tuyên quyền được sở hữu tài sản cho nguyên đơn cũng như không tuyên buộc việc giao quyền sử dụng đất cho nguyên đơn là ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự và không đảm bảo việc thi hành án.

[6] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã thu thập chứng cứ chưa đầy đủ và có những vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, cần phải hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại, kháng cáo của những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn là có cơ sở để chấp nhận một phần.

[7] Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa là phù hợp.

[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: người kháng cáo được miễn nộp.

[Nguồn: Bản án số 851/2025/DS-PT ngày 6/3/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]

Xem file đính kèm toàn văn Bản án số: 851/2025/DS-PT

………………….

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan