Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản do chưa điều tra, thu thập tài liệu, chứng cứ đầy đủ

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản do chưa điều tra, thu thập tài liệu, chứng cứ đầy đủ

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Quang T là trong thời hạn luật định. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật.

[1.2] Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh L3 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim Y, bà Đinh Thị Anh T3 và ông Nguyễn Tấn T2 có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm. người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Hồng T4 Căn cứ theo Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án cấp phúc thẩm xét xử vắng mặt các đương sự này.

[1.3] Xét thấy, tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất liên quan đến tài sản của cụ Trần Thị R đứng tên quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 17/01/2000. Đến khi cụ R mất và hiện nay tài sản này chưa được các đồng thừa kế thỏa thuận phân chia. Tại cấp sơ thẩm, các đương sự không thừa nhận ông T là con ruột của cụ R nhưng không cung cấp chứng cứ chứng minh. Do đó, xét thấy cần phải xác định quan hệ huyết thống của các đồng thừa kế cụ T, cụ X1.

[1.4] Đối với ông Nguyễn Tấn T2, tại cấp sơ thẩm không tham gia giải quyết vụ án và tại cấp phúc thẩm có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Tuy nhiên, ông T2 là một trong bốn người con được cụ Trần Thị R lập văn bản phân chia lại phần đất thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà tại thửa đất số 119, tờ bản đồ số 09. Tại cấp phúc thẩm ông T2 có văn bản trình bày cung cấp địa chỉ liên hệ. Do đó, xét thấy cần thu thập, xác minh, làm rõ ý kiến của ông T2 đổi với Giấy phân chia quyền sở hữu, sử dụng đất lập ngày 13/4/2000 để việc giải quyết vụ án được toàn diện và triệt để.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về việc xác lập của Giấy phân chia quyền sở hữu, sử dụng đất lập ngày 13/4/2000:

[2.1.1] Nguyên đơn cho rằng, khi còn sống cụ R lập Giấy phân chia quyền sở hữu, sử dụng đất lập ngày 13/4/2000 để chia cho ông T quyền sử dụng đất diện tích 900m² (diện tích qua đo đạc thực tế là 771,7m², thuộc thửa đất số 119, tờ bản đồ 09 tọa lạc tại khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 486027, số vào số cấp GCN: 00220QSDĐ/39/QĐ-UB, do UBND huyện B, tỉnh Bình Dương cấp cho hộ cụ R ngày 17/01/2000. Do đó, ông T khởi kiện yêu cầu công nhận Giấy phân chia quyền sở hữu, sử dụng đất lập ngày 13/4/2000 và công nhận cho ông T được quyền sử dụng diện tích đất qua đo đạc thực tế là 771,7m².

[2.1.2] Bị đơn ông N, ông L, bà L1, ông L2, bà L3 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Á, bà Q, Y, bà T3, bà C cho rằng khi còn sống cụ R không

có tặng cho quyền sử dụng đất nêu trên như lời ông T trình bày, nên không đồng ý toàn bộ yêu câu khởi kiện của nguyên đơn.

[2.1.3] Xét thấy Giấy phân chia quyền sở hữu, sử dụng đất lập ngày 13/4/2000, là tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn ông T cung cấp cho Tòa án cấp sơ thẩm và cam kết có bản chính (bút lục 11 – 12). Quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phản đối lại đối với tài liệu này và cho rằng cụ R không lập, không ký tên vào Giấy phân chia quyền sở hữu, sử dụng đất lập ngày 13/4/2000. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn cung cấp Giấy phân chia quyền sở hữu, sử dụng đất lập ngày 13/4/2000. Qua xem xét nội dung của Giấy phân chia quyền sở hữu, sử dụng đất và chữ ký xác nhận của ông Nguyễn Văn H – Trưởng Ban tư pháp xã và chữ ký xác nhận của ông Nguyễn Văn D1 – Ủy ban nhân dân xã H là bản photo. Tuy nhiên, dòng chữ của người ký và ghi họ tên tại Giấy phân chia quyền sở hữu, sử dụng đất này có chữ ký sống “Rốt” và ghi tên “Trần Thị R”. Như vậy, có thể xác định rằng Giấy phân chia quyền sở hữu, sử dụng đất này, khi cụ Trần Thị R chưa ký tên thì đã được Ban Tư pháp xã và Ủy ban nhân dân xã H, huyện B ký xác nhận chữ ký của cụ Trần Thị R. Khi đó, cụ R chưa ký tên vào Giấy phân chia quyền sở hữu, sử dụng đất này. Như vậy, nội dung dung Giấy phân chia quyền sở hữu, sử dụng đất này do nguyên đơn cung cấp bản photo tại phiên tòa phúc thẩm là chưa đủ cơ sở xem xét giải quyết vụ án. Trường hợp có bản chính Giấy phân chia quyền sở hữu, sử dụng đất này do cụ R ký tên, ghi tên của mình và được giám định đúng chữ ký, chữ viết của cụ R thì nội dung Giấy phân chia quyền sở hữu, sử dụng đất có hiệu lực.

Đối với mục “Chứng nhận sao y gốc” của ông Nguyễn Văn P1 ngày 14/4/2000 có đóng dấu của Ủy ban nhân dân xã H, huyện B, Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ thu thập, xác minh làm rõ trình tự, thủ tục sao y chứng nhận tại thời điểm ngày 14/4/2000 của Ủy ban nhân dân xã H cũng như chưa làm rõ nội dung chứng nhận sao y gốc là đối với chữ ký, chữ viết đứng tên “Trần Thị R” hay chứng nhận sao y gốc đối với các xác nhận của Ban Tư pháp xã Hòa Lợi và Ủy ban nhân dân xã H nên chưa đủ cơ sở giải quyết vụ án.

[2.2] Ngoài ra, quá trình tố tụng Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét, thẩm định thực tế ai là người sử dụng trên thửa đất của cụ Trần Thị R đứng tên quyền sử dụng đất.

[3] Từ những phân tích trên, căn cứ theo khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án cấp sơ thẩm chưa điều tra, thu thập tài liệu, chứng cứ đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được, kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Quang T có cơ sở chấp nhận một phần nên Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm

[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là chưa phù hợp.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Nguyễn Quang T được miễn nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[NGUỒN: Bản án số 1393/2025/DS-PT NGÀY 30/9/2025 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]

LINK PDF: Bản án số 1393/2025/DS-PT

………………….

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan