Feel free to go with the truth

Trang chủ / Nghiên cứu học tập / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án tranh chấp hợp đồng tặng cho QSDĐ và hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án tranh chấp hợp đồng tặng cho QSDĐ và hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên và những quy định pháp luật, Tòa án nhận định:

[1]. Xét quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thời hạn kháng cáo, sự có mặt, vắng mặt của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì vụ án thuộc quan hệ pháp luật tranh chấp “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” được quy định tại các điều 457, 500 Bộ luật dân sự, Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào đơn kháng cáo các ngày 14 và 15 tháng 5 năm 2024 của những người kháng cáo thì những người kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Xét trong quá trình thụ lý vụ án và chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho đương sự theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Ông Dương Văn S, đại diện theo pháp luật của Văn phòng công chứng Lê Văn S1, đại diện theo pháp luật của Văn phòng C1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên phiên tòa phúc thẩm vẫn được tiến hành xét xử theo quy định;

[2]. Xét yêu cầu kháng cáo của người kháng cáo về việc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1]. Xét Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giữa các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1.1]. Xét về nguồn gốc các thửa đất đang tranh chấp:

Căn vào lời trình bày và thừa nhận của đương sự: Ông Dương Văn B, bà Nguyễn Thị Đ là vợ chồng, xác lập hôn nhân trước năm 1975 và tại thời điểm năm 1977, ông B, bà Đ có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Dương Văn T5, ông Nguyễn Văn N1 02 thửa đất có tổng diện tích hơn 4,5ha, tại ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang. Ông B được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00303 ngày 11/5/1998, thuộc thửa 812, 819, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00586 ngày 31/10/2002, thuộc thửa 813, 830, 833 và thửa 1199 cho hộ ông Dương Văn B với tổng diện tích 46.405,1m2;

Căn cứ vào hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00303 ngày
11/5/1998 thuộc thửa 812, 819 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00586 ngày 31/10/2002 thuộc thửa 813, 830, 833 và thửa 1199 với tổng diện tích
46.405,1m2 đất cấp cho hộ ông Dương Văn B;

Căn cứ vào hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V686054 số vào số 00586QSDĐ/1209/QĐUB(H) gồm các thửa đất số thửa 813, tờ bản đố số HQC2, diện tích 16.022m2, loại đất ĐM; số thửa 830, tờ bản đố số HQC2, diện tích 3.521m2, loại đất LN.K và số thửa 833, tờ bản đố số HQC2, diện tích 4.742m2, loại đất LN.K do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho hộ ông Dương Văn B, ngày 31/10/2002;

Do đó, có căn cứ xác định đây là tài sản chung của vợ chồng ông B và bà Đ tạo lập trong thời kỳ hôn nhân gồm các thửa đất 812, 819, 813, 830, 833 và 1199, có nguồn gốc nhận chuyển nhượng từ ông T5, ông N1 từ năm 1977, tại thời điểm đó các con của ông B, bà Đ chưa thành niên nên không có công sức đóng góp vào tài sản trên.

[2.1.2]. Xét về sự biến động các thửa đất đang tranh chấp, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bà Đ chết ngày 27/8/2017 nên phát sinh hàng thừa kế thứ nhất của bà Đ gồm có: Dương Thị Kim H1, Dương Văn T2, Dương Văn S, Dương Văn T3, Dương Thị L, Dương Văn M1, Dương Thị K2, Dương Văn D và ông Dương Văn B;

Di sản của bà Đ để lại là một phần hai diện tích các thửa đất nêu trên là 23.202,55m2;

Hàng thừa kế của bà Đ gồm 09 người nên mỗi người được hưởng một kỷ phần là diện tích đất 2.587,06m2;

Do đó phần diện tích đất ông B có quyền định đoạt là 25.780,61m2, ông Dương Văn D có quyền định đoạt diện tích đất 2.587,06m2;

Như vậy ông Dương Văn B chỉ có quyền định đoạt diện tích đất là 28.367,67m2.

Tại thời điểm ngày 24/11/2017, ông B đã làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ông B được đứng tên toàn bộ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc các thửa đất nêu trên với tư cách là hộ ông Dương Văn B;

Căn cứ vào hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Dương Văn B ngày 24/11/2017, Chi nhánh – Văn phòng đăng ký đất đai huyện C2 cung cấp thì trong toàn bộ hồ sơ không thể hiện các đồng thừa kế của bà Đ từ chối nhận di sản của bà Đ hoặc văn bản tự phân chia di sản thừa kế của bà Đ;

Tại thời điểm ngày 14/12/2017, ông Dương Văn B lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho Dương Văn D, Dương Văn L1 và Dương Văn N nhưng các đồng thừa kế của bà Đ (trừ ông B, ông D) cũng không có văn bản thể hiện ý chí từ chối nhận di sản của bà Nguyễn Thị Đ;

Như vậy ông Dương Văn B đã lập hợp đồng tặng cho ông Dương Văn D, Dương Văn N, Dương Văn L1 các thửa đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau:

Dương Văn N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 19/01/2018, thuộc thửa đất 833, diện tích 3.708,2m2;Dương Văn L1, Dương Văn D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 29/12/2017, thuộc thửa đất 1475, diện tích 10.090,9m2;

Dương Văn L1, Dương Văn D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 29/12/2017, thuộc thửa đất 1199, diện tích 3.326m2;

Dương Văn D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 19/01/2018, thuộc thửa đất 1490, diện tích 16.299m2;

Dương Văn L1, Dương Văn D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 29/12/2017, thuộc thửa đất 819, diện tích 9.340,5m2;

Dương Văn D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 29/12/2018, thuộc thửa đất 830, diện tích 3.640,5m2.

Ngày 28/9/2022, ông D, anh N, anh L1 đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Trần Thị T4 gồm các thửa 1490 diện tích 16.299m2, thửa 833 diện tích 3.708,2m2, thửa 819 diện tích 9.340,5m2, thửa 830 diện tích 3.640,5m2, thửa 1199 diện tích 3.326m2. Tổng diện tích 36.314,2m2 và bà Trần Thị T4 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng các thửa đất nêu trên.

[2.1.3]. Xét hình thức, nội dung của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 14/12/2017:

Căc cứ vào 06 hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 14/12/2017 giữa ông Dương Văn B và Dương Văn D, Dương Văn N, Dương Văn L1 thì các văn bản nêu nên trên xét về hình thức, nội dung của hợp đồng thì không vi phạm về hình thức, nội dung của hợp đồng;

Tuy nhiên, như đã nhận định trên, ông B, ông D chỉ định đoạt một phần tài sản đối với các thửa đất nêu trên và các hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất chỉ vô hiệu một phần;

Nếu tính 06 kỷ phần thừa kế của bà Đ thì tổng diện tích đất của 06 kỷ phần là 15.522,36m2, trong khi thửa đất 1475 có diện tích 10.090,9m2, ông D, anh L1 đang đứng trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đang quản lý, sử dụng, chưa chuyển nhượng cho người thứ ba.

[2.1.3]. Xét hình thức, nội dung của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/9/2022 và ngày 03/11/2022:

Năm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trong đó: 03 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/9/2022 và 02 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 03/11/2022 giữa Dương Văn D, Dương Văn L1, Dương Văn N và bà Trần Thị T4 xét về hình thức, nội dung của hợp đồng thì không vi phạm về hình thức, nội dung của hợp đồng;

Bà Trần Thị T4 là người thứ ba ngay tình nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông D, anh L1, anh N và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên hủy 05 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/9/2022 và ngày 03/11/2022 giữa Dương Văn D, Dương Văn L1, Dương Văn N và bà Trần Thị T4, nhưng không giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự;

Tòa án cấp sơ thẩm có ban hành thông báo ngày 15/01/2024 Tòa án nhân dân huyện Tân Phước có ban hành Thông báo số 01/2024/TB-TA, thông báo cho bà Trần Thị T4 về việc đương sự có yêu cầu giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu và tống đạt cho bà Trần Thị T4;

Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không có giải thích cho bà T4 hay lập biên bản làm việc với bà T4 giải thích về hậu quả của hợp đồng vô hiệu và ý kiến của bà T4 và phải được ghi vào biên bản, lưu vào hồ sơ vụ án; Tòa án cấp sơ thẩm đã chưa thực hiện thủ tục trên đối với các đương sự.

Trong các biên bản hòa giải và công khai chứng cứ, cũng như biên bản tại phiên tòa sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm cũng không làm rõ bà T4 có yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu;

Từ những nhận định trên nhận thấy:

Tòa án cấp sơ thẩm xác định tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là cho hộ ông Dương Văn B, thì tại thời điểm tặng cho quyền sử dụng đất phải có sự đồng ý của thành viên trong hộ là không chính xác, như đã nhận định trên. Mặt dù trong giấy chứng chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ Dương Văn B, xét về nguồn gốc đất thì đây là tài sản chung của ông Dương Văn B và bà Nguyễn Thị Đ;

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố 06 hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu là chưa phù hợp mà chỉ vô hiệu một phần đối với phần tài sản ông B, ông D không được quyền định đoạt;

Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng ông B tại thời điểm ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là do ông D, anh L1, anh N lừa dối ông B vì ông B không minh mẫn là không có căn cứ. Bởi vì, các hợp đồng trên được ông B ký tên và công chứng, chứng thực theo quy định. Ngoài ra cũng không có căn cứ xác định ông B không minh mẫn tại thời điểm lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất bằng Quyết định của cơ quan có thẩm quyền tuyên bố ông B là người mất năng lực hành vi dân sự hay bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;

Bà T4 là người thứ ba ngay tình, theo quy định tại Điều 133 Bộ luật Dân sự thì phải được bảo vệ;

Căn cứ giải đáp số 01 ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao tại phần III, mục 2 thì thuộc trường hợp Tòa án phải giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu khi đương sự không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba;

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm không thực hiện thủ tục đo đạc, định giá tài sản đang tranh chấp để giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu nếu có căn cứ tuyên bố bố hợp đồng vô hiệu;

Trên thửa đất số 1475, căn cứ vào biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 19/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang thì tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự thừa nhận vào năm 2019, vợ chồng ông Dương Văn T2 được ông D đưa cho quản lý, sử dụng diện tích đất có chiều ngang 05m, chiều dài khoảng 80m và xây dựng một ngôi nhà trên phần đất này nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa điều tra làm rõ để đưa người tham gia tố tụng;

Những thiếu sót của Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên cần hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để xét xử lại theo thủ tục chung.

Vì hủy án sơ thẩm nên chưa xem xét yêu cầu kháng cáo của những người kháng cáo.

[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Trả lại án phí dân sự phúc thẩm cho những người kháng cáo theo quy định.

[4]. Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[NGUỒN: BẢN ÁN SỐ 438/2024/DS-PT NGÀY 21/8/2024 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG]

LINK PDF: Bản án số 438/2024/DS-PT

………………….

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan