Feel free to go with the truth

Trang chủ / Kinh doanh & Thương mại / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án tranh chấp hợp đồng hợp tác kinh toanh vi phạm tố tụng

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án tranh chấp hợp đồng hợp tác kinh toanh vi phạm tố tụng

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Công ty TNHH MTV Đ (sau đây viết tắt là Công ty Đ) được thành lập từ năm 2007. Đội quản lý trật tự đô thị thành phố Biên Hòa có Báo cáo số 19/BC[1]TTĐT ngày 20/7/2010 về việc kiểm tra, đề xuất xử lý vi phạm hành chính về xây dựng trái phép đối với Công ty Đ, trên cơ sở đó Ủy ban nhân dân thành phố B có Công văn số 2196/UBND-KT ngày 03/8/2010 về việc xử lý việc xây dựng không phép tại khu câu cá Đ. Hợp tác xã có Báo cáo số 02/BC.HTX ngày 21/3/2011 với nội dung Ủy ban nhân dân phường T có tổ chức buổi họp về việc thỏa thuận cắm mốc rào ranh giới giữa đất của Hợp tác xã và Công ty Đ. Biên bản số 01/BB-PKT ngày 03/6/2014 do Phòng Kinh tế Ủy ban nhân dân thảnh phố B lập về việc kiểm tra, đề xuất xử lý các vấn đề liên quan đến hợp đồng liên kết giữa Hợp tác xã và ông Trịnh Văn H tại khu câu cá giải trí Đ, thể hiện: Phòng Tài nguyên và Môi trường yêu cầu hai bên cùng xem lại hợp đồng liên kết những điều thay đổi về diện tích đất đai và các điều khoản tài chính cho phù hợp với hoạt động kinh doanh hiện tại của Công ty Đ. Còn Hợp tác xã đề nghị Công ty Đ tạm thời ngưng hoạt động trên diện tích đất của Hợp tác xã. Như vậy, có căn cứ xác định Công ty Đ có đầu tư trên đất liên kết giữa Hợp tác xã với ông H, Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm không đưa Công ty Đ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không đúng quy định tại khoản 6 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Ngày 04/01/2019 và ngày 26/3/2019, Hợp tác xã có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu ông H trả lại thửa đất số 19 và thửa số 16, tờ bản đồ số 44, phường T. Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đình chỉ giải quyết yêu cầu của Hợp tác xã đối với thửa đất số 19 do nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện là đúng. Tuy nhiên, căn cứ vào công văn số 5677/STNMT-QH ngày 25/11/2016 của Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ thì thửa số 16 tờ bản đồ số 44 (có diện tích 4.480,22m2 ) được đưa vào trong thửa số 01 tờ bản đồ số 44, phường T. Tòa án không đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn đối với thửa số 16 mà vẫn quyết định tạm giao thửa số 01 tờ bản đồ số 44, phường T (trong đó có thửa số 16) cho Hợp tác xã là giải quyết vượt quá yêu cầu của nguyên đơn, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

[1.3] Các Quyết định cưỡng chế số 1421/QĐCC ngày 19/4/2017 và số 11 4980/QĐ-CCXP ngày 07/11/2017 là để thi hành Quyết định số 5143/QĐ-KPHQ ngày 31/8/2016 của Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đ về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Trịnh Văn H và liên quan đến việc giải quyết yêu cầu của Hợp tác xã buộc ông H phải tháo dỡ công trình trên thửa đất số 01, 02 tờ bản đồ số 44, phường T, thành phố B, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm không thu thập chứng cứ này là có thiếu sót.

[1.4]. Hợp tác xã khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông H tháo dỡ các công trình xây dựng trên thửa đất 01, 02 tờ bản đồ số 44, phường T, thành phố B. Tuy nhiên, Quyết định số 4980/QĐ-CCXP ngày 07/11/2017 (Cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Trịnh Văn H, thi hành Quyết định số 5143/QĐ[1]KPHQ) có nội dung: Ông H có hành vi tổ chức thi công xây dựng công trình trên đất không được phép xây dựng tại thửa đất số 03, tờ bản đồ số 31, thửa đất số 01, tờ bản đồ số 44, phường T; nên buộc ông H phải phá dỡ công trình vi phạm và khôi phục lại tình trạng ban đầu của thửa đất như trước khi vi phạm tại thửa đất số 03, tờ bản đồ số 31, thửa đất số 01, tờ bản đồ số 44, phường T. Theo Công văn số 1363/UBND-NC ngày 13/02/2020 và số 3786/UBND-THNC ngày 31/3/2020 của Ủy ban nhân dân thành phố B thì có hạng mục tại Chứng thư thẩm định giá số 160/TĐG-CT ngày 17/12/2018 của Công ty cổ phần thẩm định giá Đồng Tiến không nằm trong các quyết định cưỡng chế; có hạng mục không nằm trong quyết định cưỡng chế nhưng đã được lập Biên bản vi phạm hành chính; có hạng mục nằm trong Quyết định cưỡng chế số 1421/QĐCC ngày 19/4/2017 và Quyết định số 4980/QD-CCXP ngày 07/11/2017; không phải tất cả các loại tài sản là công trình, cây xanh đều phải tháo dỡ. Như vậy, đối với yêu cầu khởi kiện của Hợp tác xã buộc ông H tháo dỡ các công trình xây dựng trên thửa đất 01, 02, tờ bản đồ số 44 thì có những hạng mục đã được Ủy ban nhân dân xem xét giải quyết bằng quyết định hành chính đã có hiệu lực pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Hợp tác xã về việc buộc ông H tháo dỡ các công trình xây dựng trên thửa đất 01, 02 tờ bản đồ số 44 phường T, thành phố B là có cơ sở. Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Hợp tác xã về việc buôc ông H tháo dỡ các công trình xây dựng trên thửa đất số 01, 02 tờ bản đồ số 44, phường T, thành phố B là vi phạm quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192, điểm g khoản 1 Điều 217, khoản 1 Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung:

[2.1] Theo các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định diện tích đất (trong đó bao gồm 06 ao hồ) mà Hợp tác xã góp với ông H có nguồn gốc từ việc sáp nhập 03 Tập đoàn sản xuất nông nghiệp (18, 19, 20) thành Hợp tác xã nông nghiệp G. Tại thời điểm ký hợp đồng với ông H và cho đến nay, diện tích này Hợp tác xã G chưa được Nhà nước giao đất, cho thuê đất chưa được cấp “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” nên theo quy định tại Điều 35 Nghị định số 12 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999 của Chính phủ về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, Điều 78b Luật Đất đai năm 1993 (được sửa đổi, bổ sung năm 1998) nay là Điều 168 Luật Đất đai năm 2013 thì Hợp đồng liên kết và các Phụ lục hợp đồng giữa Hợp tác xã với ông H là vô hiệu như Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm nhận định là có căn cứ. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm lại quyết định tuyên hủy hợp đồng là không phù hợp quy định pháp luật.

[2.2]. Diện tích đất mà Hợp tác xã góp vốn liên kết với ông H chưa được Nhà nước giao đất hay cho thuê đất; hồ sơ vụ án cũng không thể hiện các diện tích đất này là do xã viên Hợp tác xã G góp, trong khi cá nhân ông H và Công ty Đ (do ông H là chủ sở hữu) đã đầu tư trên đất này. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa hỏi ý kiến Ủy ban nhân dân tỉnh Đ và Ủy ban nhân dân thành phố B về quá trình thực hiện quản lý nhà nước đối với diện tích đất đang tranh chấp, việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước của Hợp tác xã liên quan đến diện tích đất này, cũng như thực tế ông H và Công ty Đ trực tiếp quản lý, sử dụng diện tích đất này từ năm 2003 đã đầu tư cải tạo đất, xây dựng các công trình, tài sản trên đất. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa làm rõ các nội dung trên mà đã giải quyết vụ án và quyết định tạm giao diện tích đất tranh chấp này cho Hợp tác xã dịch vụ sản xuất nông nghiệp G là vi phạm quy định Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự về xác minh, thu thập chứng cứ.

[2.3]. Hợp tác xã biết rõ đất đang tranh chấp không phải do Nhà nước giao, cho thuê, chưa được nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà vẫn đưa đất vào góp vốn kinh doanh là vi phạm khoản 1 Điều 3 Nghị định số 17/1999/NĐ[1]CP của Chính phủ, nên Hợp tác xã có lỗi dẫn tới hợp đồng vô hiệu. Trong quá trình thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh, Hợp tác xã biết ông H đầu tư, xây dựng các công trình trên đất, bao gồm cả phần đất không được phép xây dựng, nhưng không có ý kiến; do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng hai bên cùng có lỗi như nhau (50/50) làm cho hợp đồng vô hiệu là có cơ sở. Tuy nhiên, khi quyết định buộc ông H phải tháo dỡ các hạng mục công trình nằm trên thửa đất số 01, 02 tờ bản đồ số 44 với tổng giá trị 4.132.087.334 đồng, Tòa án cấp phúc thẩm nhận định đây là số tiền thiệt hại, từ đó buộc Hợp tác xã thanh toán cho ông H 2.066.043.667 đồng tương ứng với 50% lỗi là chưa chính xác, bởi lẽ không phải tất cả các công trình, tài sản do ông H và Công ty Đ đầu tư đều bị Ủy ban nhân dân buộc phá dỡ. Tòa án cấp phúc thẩm tuyên buộc ông H phải tháo dỡ cả những công trình xây dựng không vi phạm là gây thiệt hại cho cả Hợp tác xã và ông H. Trong trường hợp này, thiệt hại về tài sản do hợp đồng vô hiệu chỉ tính trên giá trị phần tài sản bị tháo dỡ theo quyết định của Ủy ban nhân dân do xây dựng trái phép, vi phạm quy định về quản lý, sử dụng đất. Đối với tài sản do ông H hoặc Công ty Đ đầu tư mà không bị tháo dỡ thì phải giao cho một bên. Nếu giao cho Hợp tác xã thì buộc 13 Hợp tác xã phải thanh toán phần giá trị tài sản còn lại cho người đã đầu tư.

[2.4]. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định số tiền 79.790.000 đồng, Hợp tác xã đã góp vốn cùng ông H để mở rộng sản xuất kinh doanh, san lấp mặt bằng, xây dựng nhà chòi câu cá, nhà khách, nhưng khi những hạng mục này bị buộc tháo dỡ, Tòa án lại buộc ông H phải trả toàn bộ số tiền này cho Hợp tác xã là gây thiệt hại cho ông H. Trường hợp này, Hợp tác xã cũng phải chịu thiệt hại 50%, như vậy ông H phải trả lại Hợp tác xã tương ứng với số tiền 39.895.000 đồng .

[3] Với những tài liệu, chứng cứ phân tích nói trên, Hội đồng xét xử Giám đốc xét thấy kháng nghị số 26/2020/KN-KDTM ngày 22/12/2020 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao là có căn cứ.

[Nguồn: Quyết định GĐT số 15/2021/KDTM-GĐT Ngày 18/3/2021 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]

Xem file đính kèm toàn văn Quyết định GĐT số: 15/2021/KDTM-GĐT 

………………..

Luật sư tại Đà Nẵng

99 Nguyễn Hữu Thọ, Quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế, Thừa Thiên Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

122 Đinh Bộ Lĩnh, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 5, số 11 Ngõ 183, phố Đặng Tiến Đông, phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

Quốc lộ 1A, Khối 11, phường Quỳnh Xuân, Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn  www.tuvanphapluatdanang.com

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage LUẬT SƯ FDVN: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

 

Bài viết liên quan

Hỗ trợ online