
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Quan hệ tranh chấp giữa các bên chưa được Tòa án cấp sơ thẩm xác định chưa đầy đủ, theo đơn khởi kiện ngày 27/9/2021 bà H khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất, ngày 17/9/2023 bà H làm đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà cơ quan có thẩm quyền đã cấp vợ chồng ông V, bà N1. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” là chưa đầy đủ mà cần xác định thêm quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” là có căn cứ.
[2] Quyết định kháng nghị phúc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, đơn kháng cáo của bà Lê Thị H, bà Lưu Thị C; thủ tục kháng cáo được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273, 279 và 208 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 nên đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[3] Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 27/9/2021 (BL 11) thì nguyên đơn khởi kiện vợ chồng ông Trần V, bà Phạm Thị Tuyết N1 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”; Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành thụ lý vụ án vào ngày 21/02/2022 (Thông báo thụ lý số 19/TB-TLVA) và xác định nguyên đơn là bà H, bị đơn là vợ chồng ông V, bà N1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà C. Sau đó bà H có đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà C, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cấp vợ chồng ông V, bà N1; ngày 01/12/2023 vợ chồng ông V, bà N1 có yêu cầu độc lập đề nghị công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông, bà với bà C là hợp pháp và yêu cầu bà H tháo dỡ phần xây dựng đã lấn chiếm để trả lại phần đất tranh chấp cho vợ chồng ông, bà. Đến ngày 21/11/2023 nguyên đơn xin rút yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với vợ chồng ông V, bà N1; ngày 02/8/2024 vợ chồng ông V, bà N1 xin rút yêu cầu độc lập nói trên; Tòa án cấp sơ thẩm không ban hành Quyết định đình chỉ đối với việc rút các yêu cầu nói trên và xác định lại tư cách tham gia tố tụng của các đương sự mà lại đình chỉ tại Bản án số 19/2025/DS – ST ngày 29/4/2025 là không đúng với quy định tại khoản 2 Điều 217 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[4] Ngoài ra, nguyên đơn khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu Tòa án xác định diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của mình; Tòa án cấp sơ thẩm lại cho đương sự đóng tạm ứng án phí Dân sự sơ thẩm có giá ngạch là không đúng với quy định tại điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[5] Qua xem xét thì thấy rằng:
[5.1] Diện tích đất tranh chấp thuộc một phần thửa số 08, tờ bản đồ số F.136.IV.A tọa lạc tại xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (nay là Phường A B) đã được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà C vào năm 1997, năm 2001 bà C chuyển nhượng cho bà H một phần đất có diện tích là 02m x 37m; sau khi nhận chuyển nhượng thì bà H đã xây dựng nhà tạm, khoan giếng nước và sử dụng diện tích còn lại làm lối đi từ đó cho đến nay. Từ năm 2003 đến năm 2004 bà C chuyển nhượng phần diện tích đất còn lại cho vợ chồng ông V, bà N1 và vợ chồng ông T, bà G mỗi bên 10m ngang mặt tiền đường N.
[5.2] Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 06/7/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng) (BL 62) thể hiện: “Đại diện Công ty cổ phần G1 và thẩm định giá Việt Nam tiến hành khảo sát vị trí diện tích đất tranh chấp và công trình xây dựng trên đất diện tích đất tranh chấp là một phần nhà xưởng xây dựng năm 2001 do hộ bà H xây dựng và 01 giếng khoan hộ bà H khoan…”. Như vậy trên thực tế diện tích đất tranh chấp hiện đang do bà H quản lý, sử dụng. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ việc bà H đã xây nhà tạm, đặt máy sấy chè và khoan giếng trên phần đất vợ chồng ông V, bà N1 đã nhận chuyển nhượng của bà C; bà C chuyển nhượng diện tích đất tranh chấp hai lần cho hai người khác nhau thì ý kiến của vợ chồng ông V, bà N1 như thế nào? Vợ chồng ông V, bà N1 có yêu cầu gì đối với diện tích đất này hay không để xem xét giải quyết đồng thời chưa hỏi cơ quan chức năng về việc có thể tách, hợp thửa hay không mà lại không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (giấy viết tay) ngày 15/5/2001 đối với diện tích đất 02m x 37m thuộc một phần thửa 08, tờ bản đồ số F.136.IV.C tọa lạc tại xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (nay là Phường A B) giữa bà Lưu Thị C và bà Lê Thị H nhưng lại không xem xét, giải quyết phần diện tích đất tranh chấp được giao cho ai, các công trình bà H xây dựng trên đất sẽ được xử lý như thế nào là không giải quyết triệt để vụ án do nhận định đương sự không yêu cầu giải quyết hậu quả, trong khi đó nguyên đơn yêu cầu công nhận hợp đồng chứ không yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu; việc giải quyết của cấp sơ thẩm không phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 146 Bộ luật Dân sự năm 1995.
[6] Từ những phân tích nói trên, Tòa án cấp sơ thẩm xác định thiếu quan hệ tranh chấp của vụ án, vi phạm thủ tục tố tụng, đồng thời chưa làm rõ các vấn đề vừa nêu mà lại không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chưa có căn cứ vững chắc, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên cần hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng giải quyết lại theo quy định của pháp luật. Sau khi thụ lý lại cấp sơ thẩm cần làm rõ việc chuyển nhượng giữa các bên, diện tích đất nhận chuyển nhuọng có đủ điều kiện để hợp thửa với thửa 15 của bà H hay không. Đồng thời cần làm rõ các yêu cầu của đương sự mới đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.
[7] Về chi phí tố tụng: Tại phần Quyết định của Bản án không tuyên ai phải chịu chi phí tố tụng là thiếu sót, khi giải quyết lại Tòa án cấp sơ thẩm cần xem xét, giải quyết phần chi phí tố tụng này theo quy định của pháp luật.
[Nguồn: Bản án số 140/2025/DS-PT ngày 30/7/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG]
Xem file đính kèm toàn văn Bản án số: 140/2025/DS-PT
………………….
Luật sư tại Đà Nẵng:
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Star Tower, số 68 Dương Đình Nghệ, phường Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn