
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1]. Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu hủy GCNQSDĐ do UBND thành phố Thanh Hoá cấp cho các bị đơn và yêu cầu chia di sản thừa kế nên Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 34 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Kháng cáo của nguyên đơn bà Vũ Thị D làm trong hạn luật định, hợp lệ nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Các đương sự đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Bùi Thị X đã chết năm 2022, bà X không có con nhưng bản án sơ thẩm không xác định người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà X hoặc người đang quản lý tài sản của bà X cũng như không yêu cầu phía nguyên đơn thay đổi nội dung khởi kiện đối với phần đất mà trước đây bà X quản lý là không đúng, vi phạm thủ tục tố tụng.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã rút các nội dung yêu cầu hủy GCNQSDĐ số CT 641400 do UBND thành phố Thanh Hóa cấp ngày 15/01/2020 cho bà Lê Thị D1, diện tích 102m2 tại thửa đất số 847, tờ bản đồ số 3; Hủy GCNQSDĐ số CT 641399 do UBND thành phố Thanh Hóa cấp ngày 15/01/2020 cho các ông Vũ Văn S, Vũ Văn Th1, diện tích 476m2 tại thửa đất số 846, tờ bản đồ số 3; Hủy GCNQSDĐ số CT 641397 do UBND thành phố Thanh Hóa cấp ngày 15/01/2020 cho bà Bùi Thị X, diện tích 305,4m2 tại thửa đất số 845, tờ bản đồ số 3, đều có địa tại phố Sơn Vạn, phường Đông Hải, thành phố Thanh Hóa.
Việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của đương sự là tự nguyện, nên Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ xét xử đối với các yêu cầu khởi kiện nguyên đơn đã rút là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2.2]. Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Vũ Thị D, Hội đồng xét xử thấy:
Thửa đất số 367, 368, tờ bản đồ số 03 bản đồ địa chính phường Đông Hải do vẽ năm 1994 các đương sự trong vụ án đều thừa nhận có nguồn gốc do bố mẹ các đương sự là cụ Vũ Văn S1và cụ Nguyễn Thị Q1để lại. Quá trình sinh sống các cụ S1, cụ Q1sinh sống trên thửa đất cùng các con. Năm 1979 cụ S1chết không để lại di chúc, cụ Q1trực tiếp quản lý, sử dụng thửa đất tên. Năm 1987 cụ Q1chết, không để lại di chúc. Khi còn sống các cụ S1, cụ Q1chưa cho tặng ai cũng như chưa có văn bản phân chia quyền sử dụng đất cho các con, mà chỉ tạm giao cho ông Vũ Văn H3quản lý sử dụng. Trong đơn xin xác nhận thời gian và nguồn gốc sử dụng đất của bà Đ và Phiếu lấy ý kiến của khu dân cư cũng thể hiện nguồn gốc đất do ông cha để lại. Đơn đăng ký cấp GCNQSDĐ của ông Vũ Văn H3, bà Bùi Thị X; đơn xin xác nhận thời gian và nguồn gốc sử dụng đất của ông H3, bà Xvà Phiếu lấy ý kiến của khu dân cư cũng thể hiện nguồn gốc đất được cha ông để lại năm 1960; đơn đăng ký quyền. Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự cũng không xuất trình được bất cứ giấy tờ gì thể hiện được bố mẹ tặng cho, phân chia quyền sử dụng đất.
Mặt khác, Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng mặc dù diện tích đất nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế, các đương sự đều thừa nhận có nguồn gốc đất của của S1, cụ Q1nhưng ngay từ những năm 1959, 1960 khi hai cụ còn sống trên đất thì vợ chồng ông H3và vợ chồng ông S2đã được sử dụng đất, xây nhà trên đất và đứng tên trên GCNQSDĐ, trong khi các cụ S1, cụ Q1không được đứng tên trên GCNQSDĐ từ đó không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ.
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không xuất trình được căn cứ cho rằng trước khi chết bố mẹ bị đơn đã phân chia nhà đất cho các con, do đó thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và kháng cáo của nguyên đơn là có căn cứ do về tố tụng cấp sơ thẩm còn thiếu sót trong quá trình xác định tư cách tham gia tố tụng cũng như tại cấp phúc thẩm không thể khắc phục được.
Mặc dù trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, Tòa án cấp sơ thẩm đã đình chỉ đối với yêu cầu này của nguyên đơn là đúng, tuy nhiên trong quá trình giải quyết đã xác định sai tư cách tham gia tố tụng và nội dung thì xác định sai nguồn gốc tài sản đang tranh chấp.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, cần hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Toàn án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[3]. Về án phí: Do hủy bản án sơ thẩm nên bà Vũ Thị D không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Nghĩa vụ chịu án phí được xác định lại khi giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[Nguồn: Bản án số 70/2025/DS-PT ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI]
Xem file đính kèm toàn văn Bản án số: 70/2025/DS-PT
………………….
Luật sư tại Đà Nẵng:
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Star Tower, số 68 Dương Đình Nghệ, phường Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn