
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn trong thời hạn luật định là kháng cáo hợp lệ và được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Tại phiên toà, bị đơn là ông C và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Xét thấy những người vắng mặt đã có người đại diện hợp pháp tham gia phiên toà hoặc đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt nên HĐXX căn cứ quy định của Điều 227, 228 BLTTDS, tiếp tục xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét hiệu lực của hợp đồng đặt cọc: Hồ sơ vụ án thể hiện nguyên đơn, bị đơn đều thống nhất trình bày hợp đồng đặt cọc giữa bà H với vợ chồng bà H1, ông C là nhằm giao kết hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 98. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm thu thập thì có căn cứ xác định thửa đất số 98 có nguồn gốc của ông Lê Huy H2. Ngày 05/3/2019, bà H1 và ông H2 đã lập Giấy vay tiền có thế chấp với nội dung ông H2 vay bà H1 450.000.000 đồng, thời hạn vay 60 tháng (05 năm); ông H2 chuyển nhượng cho bà H1 thửa đất số 98 làm tài sản cầm cố, thế chấp; trong thời hạn vay mà ông H2 thanh toán đủ cho bà H1 tiền vay thì bà H1 có trách nhiệm chuyển nhượng lại thửa đất số 98 cho ông H2, ngược lại thì bà H1 không phải chuyển nhượng lại đất cho ông H2. Thời điểm bà H1 giao kết hợp đồng đặt cọc với bà H để bán đất là chưa hết thời hạn 05 năm theo thoả thuận với ông H2, thửa đất số 98 bị ràng buộc bởi thoả thuận vay tiền có thế chấp giữa bà H1 với ông H2 như trên nên ông C, bà H1 không có quyền chuyển nhượng thửa đất cho người khác, tức là việc chuyển nhượng không thể thực hiện được. Như vậy nếu có căn cứ xác định giữa vợ chồng bà H1 và ông Lê Huy H2 có thỏa thuận về việc hạn chế quyền định đoạt của vợ chồng bà H1 đối với quyền sử dụng đất nêu trên thì Hợp đồng đặt cọc không thể thực hiện được nên vô hiệu theo quy định tại khoản 1 Điều 408 Bộ luật Dân sự như Tòa án cấp sơ thẩm xác định là có căn cứ.
[2.2] Xét hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu:
[2.2.1] Theo quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự, khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, trường hợp không thể hoàn trả bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả; bên ngay tình trong việc thu lợi hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó; bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường. Tại Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ: “Khi giải quyết vụ án dân sự có yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu nhưng đương sự không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu thì Tòa án phải giải thích cho các đương sự về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Việc giải thích phải được ghi vào biên bản và lưu vào hồ sơ vụ án. Trường hợp Tòa án đã giải thích nhưng tất cả đương sự vẫn không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu thì Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu mà không phải giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu; trừ trường hợp đương sự không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba“. Trong vụ án này, tại cấp sơ thẩm, bị đơn không yêu cầu giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu. Toà án cấp sơ thẩm không giải thích cho các đương sự quy định của pháp luật về hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu là thiết sót. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn, bị đơn đều có yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng đặt cọc vô hiệu.
[2.2.2] Tại cấp sơ thẩm, trong các yêu cầu của nguyên đơn, có yêu cầu Tòa án xem xét buộc bị đơn phải trả nguyên đơn số tiền đã đầu tư trên thửa đất số 98, là đã yêu cầu giải quyết một phần hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu, Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết buộc buộc bị đơn phải trả nguyên đơn số tiền đã đầu tư xây dựng trên thửa đất số 98, trong khi lại không giải quyết các hậu quả khác của hợp đồng vô hiệu là mâu thuẫn. Do Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét đầy đủ thiệt hại, lỗi, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của mỗi bên khi xác định hợp đồng vô hiệu là ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, những nội dung này tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được nên cần hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm. Do huỷ bản án sơ thẩm nên Hội đồng xét xử không xem xét về việc bị đơn rút yêu cầu kháng cáo.
[3] Về án phí: Do huỷ bản án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại nên đương sự kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm được xác định lại khi giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[Nguồn: Bản án số 45/2024/DS-PT ngày 15/5/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]
Xem file đính kèm toàn văn Bản số: 45/2024/DS-PT
………………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Phước Ninh, Quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, quận Thuận Hoá, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường 6, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Star Tower, số 68 Dương Đình Nghệ, phường Yên Hoà, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
Quốc lộ 1A, Khối 11, phường Quỳnh Xuân, Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Vinh Tân, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage LUẬT SƯ FDVN: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn