Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án sơ thẩm về yêu cầu chia di sản thừa kế và hủy GCNQSDĐ (không để lại di chúc) vì có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi ích hợp pháp các đương sự

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án sơ thẩm về yêu cầu chia di sản thừa kế và hủy GCNQSDĐ (không để lại di chúc) vì có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi ích hợp pháp các đương sự

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; ý kiến trình bày, tranh luận của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Dương Thị H khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định khoản 5 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.

[2] Về Nội dung vụ án: Xét toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn bà Dương Thị H và các đồng thừa kế thì thấy:

Về nguồn gốc thửa đất ông Dương Xuân H2 kê khai và được UBND huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành P 719436, số vào sổ giấy chứng nhận 00152 QSDĐ ngày 20/9/2000, trong đó có thửa đất số 212, tờ bản đồ địa chính số 03 xã P1, diện tích 2.480 m2. Đến năm 2010, được cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 212, tờ bản đồ địa chính số 03 xã P1 (nay là xã H1), diện tích 2.480m2. Và đến ngày 18/10/2013, UBND huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BG 225006, số vào sổ CH 06208 tại thửa đất số 474, tờ bản đồ địa chính số 7 xã P1, diện tích 2.014m2  cho hộ ông Dương Xuân H2 và bà Nguyễn Thị D là của  là Cụ ông Dương Văn Ch, sinh năm 1942 (chết năm 1999) và cụ bà Dương Thị U, sinh năm 1937 ( chết năm 1975) các Cụ U và Ch sinh được 05 người con gồm. bà Dương Thị H6, ông Dương Xuân H2, bà Dương Thị H7, bà Dương Thị H8 và Dương Thị H, các cụ không để lại di chúc. Sau khi bố mẹ mất, em trai của bà là ông Dương Xuân H2 ở trên mảnh đất do bố mẹ để lại cho đến nay. Sau đó ông H2 bà D lập thủ tục tách thành các thửa số 2398 có diện tích 239,4 m2, thửa đất số 2399 có diện tích 239,5 m2, thửa đất số 2400 có diện tích 1.534,9 m2  và tặng cho các con.

Ông Dương Xuân H2 và bà Nguyễn Thị D đã thực hiện giao dịch tặng cho ông Dương Ngọc H4 đối với thửa đất số 2398, tờ bản đồ địa chính số 07, diện tích 239,4 m2  và ông H4 được Sở Tài nguyên và Môi trường cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CR 455824, số vào sổ CS 08364 ngày 16/10/2019;

Ông Dương Xuân H2 và bà Nguyễn Thị D đã thực hiện giao dịch tặng cho bà Dương Thị N đối với thửa đất số chính số 07, diện tích 239,5 m2   và bà N đã được Sở Tài nguyên và Môi trường cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CR 455825, số vào sổ CS 08363 ngày 16/10/2019.

Đối thửa đất số 2400, tờ bản đồ số 07, diện tích 1.534,9m2 hiện nay ông Dương Xuân H2 và bà Nguyễn Thị D đang sử dụng được Sở Tài nguyên và Môi trường cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CR 455826, số vào sổ CS 08365 ngày 16/10/2019.

[3] Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và nhận định của án sơ thẩm  cũng như tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay. Nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm, bà H6, bà H7, bà H8 đều thừa nhận. Nguồn gốc toàn bộ diện tích 2.014m2 đất đang tranh chấp là tài sản của cụ Dương Văn Ch và cụ Dương Thị U để lại chưa chia. Ngoài ra, các bên cũng thừa nhận trên diện tích đất có ngôi nhà và giếng nước, năm 1996 tháo dỡ xây mới có nguồn tiền của cụ Dương Văn Ch và công sức các bà. Đây là tình tiết không phải chứng minh phù hợp với quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện cụ U đã chết vào năm 1975 và theo phần bia mộ thì cụ Ch ghi chết vào ngày 03/11/1999 (nhưng cải chính hộ tịch ghi 17/12/2001). Ông Dương Xuân H2 khai; Cụ Dương Văn Ch lúc còn sống đã đồng ý tặng cho toàn bộ diện tích đất nêu trên nhưng không có bất cứ tài liệu gì để minh chứng. Vì vậy việc Ông Dương Xuân H2 tự ý kê khai  và đứng tên toàn bộ diện tích đất mà không có ý kiến của H6, bà H7, bà H8 và bà H là ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của  hàng thừa kế thứ nhất của các cụ.

[4] Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ Án lệ số 03/2016 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xác định phần diện tích đất tranh chấp đã được cụ Ch cho vợ chồng ông H2, xây dựng nhà kiên cố trên diện tích đất nêu trên để làm nơi ở, và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các đồng thừa kế, là không đúng tính tiết khách quan của vụ án và hoàn cảnh tương tự của án lệ số 03/2016. Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi ích hợp pháp các đương sự, những vi phạm nêu trên, HĐXX phúc thẩm không thể khắc phục được. Vì vậy, thấy cần thiết phải hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm, giao hồ sơ về cho Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình để giải quyết lại theo thủ tục chung. Khi xét xử lại cần thu thập các tài liệu liên quan đến việc cấp đất lần đầu của UBND huyện B đối với ông Dương Xuân H2; tính công sức đóng góp duy tu bảo quản tài sản và xem xét tính hợp pháp giấy CNQSDĐ đã cấp cho ông Dương Xuân H2 và các con của ông để bảo đảm quyền thừa kế về di sản theo pháp luật.

[3] Về án phí: Về án phí DSST và DSPT, các chi phí tố tụng khác sẽ được xem xét khi xét xử lại.

[Nguồn: Bản án số 28/2024/DS-PT ngày 29/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG]

Xem file đính kèm toàn văn Bản án số: 28/2024/DS-PT

………………….

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Phước Ninh, Quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, quận Thuận Hoá, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường 6, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 2, Star Tower, số 68 Dương Đình Nghệ, phường Yên Hoà, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

Quốc lộ 1A, Khối 11, phường Quỳnh Xuân, Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Vinh Tân, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage LUẬT SƯ FDVN: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan