Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án sơ thẩm về tranh chấp thừa kế tài sản vì Toà sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án sơ thẩm về tranh chấp thừa kế tài sản vì Toà sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố N; đơn kháng cáo của các ông, bà Phạm Văn N, Phạm Thị N, Phạm Duy V, Phạm Văn S, Phạm Thị H, Phạm Văn Nh được làm trong thời hạn pháp luật quy định và đúng hình thức, nội dung theo quy định tại các Điều 272, 273, 278, 279, 280 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Tại phiên toà phúc thẩm Cụ Trần Thị T và Ông Phạm Văn K có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt Cụ Trần Thị T và Ông Phạm Văn K.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Cụ Phạm Văn Th (chết ngày 01/5/2009) kết hôn với cụ Trần Thị P (chết ngày 17/12/2013) khoảng năm 1945, sinh được 06 người con, gồm: ông Phạm Thế Tr (chết năm 2002, trước khi chết không để lại di chúc, có vợ là bà Nguyễn Thị Đ và 03 người con là Anh Phạm Duy K, Anh Phạm Duy V và Chị Phạm Thị H), bà Phạm Thị N (chết năm 1987, không có chồng, con, trước khi chết không để lại di chúc), ông Phạm Văn N, Bà Phạm Thị N, Ông Phạm Văn S và Ông Phạm Văn Nh. Năm 1950, cụ Phạm Văn Th đưa Cụ Trần Thị T về sinh sống cùng và sinh được 04 người con, gồm: Bà Phạm Thị Thúy V, Ông Phạm Văn K, Ông Phạm Thông M, và ông Phạm Văn T. Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 thì quan hệ hôn nhân giữa cụ Th với cụ P và giữa cụ Th với cụ T là hợp pháp nên cụ Th, cụ P và cụ T có quyền và nghĩa vụ theo quan hệ hôn nhân hợp pháp.

[2.2] Cụ Th, cụ P và cụ T cùng sinh sống trên mảnh đất có nguồn gốc từ trước năm 1980, do ông cha để lại tại thôn P, xã S, huyện H (nay là phố P, phường S) thành phố N. Tại bản đồ, sổ mục kê lập năm 1985 của UBND xã S (nay là UBND phường S) vị trí đất thuộc tờ bản đồ số 4, gồm các thửa: thửa số 602, diện tích 1.110m2 loại đất thổ và thổ canh ghi tên Tr, N; thửa số 603, diện tích 400m2 loại đất thổ và thổ canh ghi tên T; thửa số 605, diện tích 180m2 loại đất ao ghi tên Th; thửa số 606, diện tích 1.170m2  loại đất thổ, thổ canh ghi tên N, Th; thửa số 607, diện tích 66m2 loại đất ao ghi tên Th. Tổng diện tích đất là 2.926m2  (trong đó đất thổ và thổ canh 2.680m2; đất ao 246m2). Tại bản đồ, sổ mục kê năm 1997 của UBND phường S vị trí đất thuộc thửa số 22, tờ bản đồ số 6, diện tích tăng 3.985m2 (trong đó đất ở 1.080m2, đất vườn 2.905m2) mang tên Phạm Văn T. Tại bản đồ, sổ mục kê, hồ sơ địa chính năm 2007, đã hợp 5 thửa đất (602, 603, 605, 606, 607) thành thửa số 61, tờ bản đồ số 17, diện tích tăng lên 4.119m2  (trong đó đất ở 689m2; đất trồng cây lâu năm 3.202,2m2; đất nuôi trồng thuỷ sản 227,8m2) mang tên Phạm Văn T. Thửa đất này đã được UBND thành phố N cấp Giấy CNQSDĐ số AI 727048 ngày 20/11/2007 mang tên ông Phạm Văn T, bà Trần Thị P. Tài sản trên đất có năm gian nhà cấp bốn và ba gian công trình phụ cấp bốn.

[2.3] Diện tích đất tăng thêm 1.193m2  (năm 1985 là 2.926m2  đến nay là

4.119m2) được hình thành trong thời kỳ hôn nhân giữa cụ Th với cụ P và cụ T nên Toà án cấp sơ thẩm xác định đây là tài sản chung của các cụ là có căn cứ. Tuy nhiên, theo UBND phường S và các đồng thừa kế của cụ Th, cụ P cung cấp thì cụ Th, cụ P và các con chung của cụ Th, cụ P có công sức bồi trúc, cơi nới và khai hoang sử dụng từ năm 1985 cho đến nay. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét công sức trông coi, quản lý di sản nhưng chỉ tính công sức trông coi, quản lý di sản cho tất các con của cụ P tương đương một kỷ phần thừa kế là chưa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đồng thừa kế của hai cụ mà phải xem xét công sức cho từng người trong đó ưu tiên người có công sức nhiều hơn thì được hưởng mức cao hơn.

[2.4] Sau khi chết cụ Phạm Văn Th có để lại di chúc, Toà án cấp sơ thẩm đã xác định Bản Di chúc do cụ Phạm Văn Th lập ngày 15/12/2003, sửa đổi ngày

26/12/2003 là không hợp pháp và đã xác định thời điểm mở thừa kế của cụ Th cũng như diện, hàng thừa kế theo đúng quy định của pháp luật.

[2.5] Quá trình giải quyết vụ án ông N, bà N, ông S, ông Nh, anh K, anh V và chị H đều đề nghị chia di sản thừa kế của cụ Th cho các ông bà, anh chị bằng hiện vật là quyền sử dụng đất; mặc dù diện tích đất rộng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét chia theo yêu cầu của các đương sự mà lại chia và giao cho hàng  thừa  kế  thứ  nhất  của  cụ  P  cùng  sở  hữu  chung  1.954,3m2   đất  (gồm 1.234,2m2  di sản của cụ P và 719,9m2  được chia thừa kế di sản của cụ Th) là chưa giải quyết triệt để yêu cầu của đương sự.

[2.6] Bà Nguyễn Thị Đ (vợ ông Phạm Thế Tr) có thời gian ở trên đất cùng với cụ Th, cụ P có công sức chăm sóc cụ Th và trông coi, duy trì bảo quản di sản. Tòa án cấp sơ thẩm đã tính cho các con của cụ P thuộc hàng thừa kế thứ nhất được hưởng tiền công sức, chi phí bảo quản di sản tương ứng với một kỷ phần thừa kế nhưng lại không xem xét, giải quyết công trông coi, duy trì bảo quản di sản thừa kế của bà Đ là không đúng quy định của pháp luật.

[2.7] Toà án cấp sơ thẩm chia và giao cho Cụ Trần Thị T 1.749m2 đất vị trí, kích thước, mốc giới được xác định bởi H1 các mốc là (6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (20), (19), (18). Trên sơ đồ đính kèm Bản án có cạnh được xác định bởi mốc (12) và (20) cho thấy vị trí gần mốc (20) cắt vào khu vực nhà tạm gia đình bà Đ đang sử dụng làm ảnh hưởng đến kết cấu, giá trị sử dụng của công trình nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không xác định cụ thể diện tích, kích thước, giá trị tài sản thiệt hại cũng như việc thanh toán giá trị thiệt hại là chưa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

[2.8] Tại sơ đồ đính kèm Bản án, Tòa án cấp sơ thẩm cắt diện tích 270,5m2 đất ở làm nơi thờ cúng và thuộc quyền sử dụng chung của các đồng thừa kế có vị trí, kích thước, mốc giới được xác định bởi H3 các mốc là (3), (4), (21), (22) cắt vào nhà ở của ông S đang sử dụng làm ảnh hưởng đến kết cấu, giá trị sử dụng của công trình nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không xác định cụ thể diện tích, kích thước, giá trị tài sản thiệt hại cũng như việc thanh toán giá trị thiệt hại là chưa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

[2.9] Bản án sơ thẩm xác định di sản thừa kế là quyền sử dụng 4.119m2 đất và năm gian nhà cấp bốn, ba gian công trình phụ. Quá trình sử dụng ba gian công trình phụ, bà Đ đã sửa chữa, tu bổ lại nhưng Toà án cấp sơ thẩm không làm rõ giá trị các tài sản đã sửa chữa, tu bổ để thanh toán cho bà Đ đồng thời không xem xét, quyết định đối với ba gian công trình phụ là bỏ lọt tài sản và chưa giải quyết hết di sản thừa kế.

[2.10] Tòa án cấp sơ thẩm giao cho cụ T được quyền sử dụng 1.749m2 đất, và các tài sản trên đất là: 64,66m dây thép gai và cột bê tông; 64,66m cây hàng rào (cây găng); 10 cây xoan; 03 cây mít; 01 bụi tre 15 cây có tổng trị giá là 22.074.000 đồng. Các tài sản trên đất không phải là di sản thừa kế nhưng lại tính vào tổng giá trị tài sản thừa kế cụ T được hưởng là không đúng.

[2.11] Tòa án cấp sơ thẩm để lại 270,5m2 đất loại đất ở trên đất có Nhà thờ và 145,2m2  đất trồng cây lâu năm trên đất có ngôi mộ tổ cho các đồng thừa kế quản lý, sở hữu chung. Các đồng thừa kế chưa có văn bản thống nhất thoả thuận giao cho ai trực tiếp trông coi quản lý nhưng Toà án cấp sơ thẩm đã quyết định giao cho Anh Phạm Duy K (cháu nội) trông coi quản lý là chưa có căn cứ.

[2.12] Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy: Toà án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự, Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Căn cứ khoản 3 Điều 308, khoản 1 Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của các ông, bà Phạm Văn N, Phạm Thị N, Phạm Duy V, Phạm Văn S, Phạm Thị H, Phạm Văn Nh và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS- ST ngày 09/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

[2.13] Tiền tạm ứng án phí, nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm, nghĩa vụ chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, thẩm định giá tài sản được xem xét, quyết định khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: do bản án sơ thẩm bị hủy nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm cho người kháng cáo đã nộp theo quy định của pháp luật. Ông Phạm Văn N, Bà Phạm Thị N là người cao tuổi nên thuộc trường hợp được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

[Nguồn: Bản án số 25/2024/DS-PT ngày 09/9/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH]

Xem file đính kèm toàn văn Bản án số: 25/2024/DS-PT

………………….

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Phước Ninh, Quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, quận Thuận Hoá, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường 6, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 2, Star Tower, số 68 Dương Đình Nghệ, phường Yên Hoà, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

Quốc lộ 1A, Khối 11, phường Quỳnh Xuân, Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Vinh Tân, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage LUẬT SƯ FDVN: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan