Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án sơ thẩm về tranh chấp QSDĐ và hủy quyết định cá biệt

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án sơ thẩm về tranh chấp QSDĐ và hủy quyết định cá biệt

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt những tham gia tố tụng theo quy P định của Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét kháng cáo, kháng nghị:

[2.1] Về tố tụng:
[2.1.1] Quá trình giải quyết vụ án Bị đơn có yêu cầu “Huỷ Giấy CNQSD đất được UBND thành phố T cấp cho ông Phạm Tấn X ngày 27/12/2011 đối với thửa đất số 6.3, tờ bản đồ số 24 có diện tích 418,6m (nay được đổi thành thửa đất số 20, tờ bản đồ số 54, diện tích còn lại sau khi bị thu hồi là 415,4m2” Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành các thủ tục đối với yêu cầu phản tố này là không đúng quy định pháp luật tố tụng.

[2.1.2] Theo Sổ mục kê thì thửa đất số 06 diện tích 1.790,7m2 do bà Lê Thị C1 (mẹ ông X) kê khai đăng ký; tại biên bản hòa giải tranh chấp đất đai giữa ông Phạm Tấn X và ông Nguyễn Quốc Tịch T1 do UBND phường T giải quyết năm 2013 xác định “ông X là người nhận thừa kế”, tại Công văn số 3550/UBND TNMT ngày 11/12/2024 của UBND thành phố T cũng thể hiện ông X nhận thừa kế của cha, mẹ diện tích 1.790,7m². Như vậy, hộ bà Lê Thị C1 đã được cấp GCNQSD chưa? để lại thừa kế của ông Xu thời Đ nào? chưa được cấp sơ thẩm làm rõ để có căn cứ xác định việc cấp GCNQSDĐ cho ông có hợp pháp hay không, trên cơ sở đó mới có căn cứ hủy hay không hủy giấy chứng nhận;

[2.2] Về nội dung:

[2.2.1] Ông Phạm Tấn X chuyển nhượng cho ông Nguyễn Quốc T1 diện tích 309,7m². Diện tích đất còn lại ông X được UBND thành phố T cấp Giấy CNQSDĐ ngày 31/5/2010, thửa số 06, tờ bản đồ 24, diện tích 1.482,4m². Năm 2011, ông X lập thủ tục tách thửa số 06 thành 04 thửa đất, gồm: Thửa số 06, diện tích 332m², thửa số 6.1, diện tích 241,8m², thửa số 6.2, diện tích 490m² và thửa số 6.3, diện tích 418,6m². UBND thành phố T cấp Giấy CNQSD đất cho ông Phạm Tấn X ngày 27/12/2011 đối với thửa 6.3. Sau đó, ông X đã chuyển nhượng thửa đất số 6.3, diện tích 418,6m² cho ông Trần Quốc B và bà Trương Thị Hồng C và được chỉnh lý biến động ngày 19/9/2012; tuy nhiên, so với Giấy CNQSD đất được cấp đối với thửa đất số 6.3 thì diện tích thực tế thiếu 30,4m² (theo Mảnh trích đo chỉnh lý bản đồ địa chính của chi nhánh V3 Đăng ký đất đai).

[2.2.2] Tại “Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa ông Phạm Tấn X và Phạm Văn P1 với ông Nguyễn Quốc T1 và bà Lê Thị H “không có ngày, tháng, năm; không ghi thửa đất, không nêu rõ diện tích, không có giá chuyển nhượng”; và không được chính quyền địa phương xác nhận. Do đó, việc chuyển nhượng này không đúng quy định của Luật Đất đai nên giao dịch này là vô hiệu theo quy định tại Điều 123 của Bộ luật Dân sự.

[2.2.3] Theo hồ sơ 60/CP đo đạc năm 2000 thì hộ ông T1 đăng ký thửa số 7, tờ bản đồ 24, diện tích 202,1m², nhận chuyển nhượng của ông X 309,7m², tổng diện tích 511,8m². Theo hồ sơ đo đạc năm 2012, hộ ông T1 đăng ký thửa đất số 35, diện tích 414,7m²; hộ bà Á (con ông T1) đăng ký thửa đất số 21, diện tích 129,2m²; tổng diện tích là 543,9m². Như vậy, diện tích đất thực tế sử dụng của ông T1 tăng 32,1m².

[2.2.4] Theo Biên bản hoà giải ngày 24/7/2013 tại UBND phường T thì ông T1 thống nhất mua phần đất tranh chấp trên; tại Biên bản hòa giải tranh chấp đất đai ngày 13/9/2019 tại UBND phường T, ông V (con của ông T1) thống nhất trả lại diện tích đất dư cho ông B, theo quy định đây là chứng cứ các bên đã thừa nhận không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nhưng sau đó, ông T1 cũng như ông V không thực hiện trả tiền giá trị đất lấn chiếm.

[2.2.5] Xét, diện tích đất tranh chấp có 30,4m² thuộc thửa đất 6.3, đã được UBND thành phố T cấp GCNQSDĐ cho ông X ngày 27/12/2011 và biến động sang tên ông B ngày 19/9/2012 và được UBND thành phố xác định thực hiện đúng quy định pháp luật. Trong khi đó, diện tích 309,7m2 đất ông T1 nhận chuyển nhượng của ông X chưa được Nhà nước công nhận, không thể hiện vị trí, ranh giới thửa đất. Đồng thời, ông Phan Thanh V và Nguyễn Thị Á cho rằng diện tích đất sử dụng xây dựng nhà ở do ông T1, bà H cho nhưng không cung cấp được giấy tờ pháp lý về việc tặng cho quyền sử dụng đất, việc xây dựng nhà ở không được Nhà nước cho phép; ông V, bà Á cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh vị trí, ranh giới, diện tích đất được tặng cho, hiện đang sử dụng và chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử đụng đất.

[3] Từ các phân tích tại mục [2], Tòa án cấp sơ thẩm quyết định: “không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Trần Quốc B và bà Trương Thị Hồng C buộc bị đơn trả lại diện tích 30,4m2; chấp nhận yêu cầu của ông Phan Thanh V và bà Nguyễn Thị Á, huỷ Giấy CNQSD đất được UBND thành phố T cấp cho ông Phạm Tấn X ngày 27/12/2011 đối với thửa đất số 6.3, tờ bản đồ số 24 có diện tích 418,6m2 (nay được đổi thành thửa đất số 20, tờ bản đồ số 54, diện tích còn lại sau khi bị thu hồi là 415,4m2) tại phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam” là không phù hợp với tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án; việc đánh giá, thu thập chứng cứ của cấp sơ thẩm chưa đầy đủ, không đúng quy định của pháp luật, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn ông B, bà C. Do vậy, HĐXX cấp phúc thẩm xét cần phải hủy Bản án số 98/2024/DS-ST ngày 16 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định.

[3] Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam, kháng cáo của nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao Đà Nẵng tại phiên tòa.

[4] Về án phí hành chính phúc thẩm: đương sự kháng cáo được chấp nhận không phải chịu án phí theo quy định.

[Nguồn: Bản án số 299/2025/DS-PT ngày 20/6/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG]

Xem file đính kèm toàn văn Bản án số: 299/2025/DS-PT

………………….

Luật sư tại Đà Nẵng

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 2, Star Tower, số 68 Dương Đình Nghệ, phường Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan