Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án sơ thẩm về tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án sơ thẩm về tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ, toàn diện các chứng cứ. Hội đồng xét xử nhận định.

 [1] Tại phiên tòa, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có kháng cáo là ông Phạm Đình C và Người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Xuân P là bà Nguyễn Thị D vắng mặt nhưng có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên vẫn xem xét kháng cáo. Bị đơn Văn phòng công chứng C và Văn phòng công chứng T không có kháng cáo vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xem xét phúc thẩm vụ án.

[2] Về hình thức:

 Đơn kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đậu Thị P, ông Phạm Đình C và Đơn kháng cáo của Người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Xuân P là bà Nguyễn Thị D có đầy đủ nội dung, nộp đúng thời hạn, nằm trong phạm vi được ủy quyền, có đầy đủ nội dung theo quy định của pháp luật.

Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai được ban hành trong thời hạn, có đầy đủ nội dung theo quy định tại Điều 279, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Do kháng cáo của Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đậu Thị P, ông Phạm Đình C và anh Nguyễn Xuân P; kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai là hợp lệ nên là căn cứ để Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.

[3] Xét việc thực hiện các thủ tục tố tụng của Tòa án cấp sơ thẩm trong quá trình giải quyết vụ án:

[3.1] Về việc thụ lý yêu cầu độc lập của Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện đối với quyền sử dụng đất diện tích 400m2 tại tổ 11, thị trấn Sa Pa, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai (nay là tổ 4, phường P, thị xã S, tỉnh Lào Cai) theo GCNQSDĐ số AO 789972, số vào sổ H 01041 do UBND huyện Sa Pa cấp ngày 22/5/2009 cho chủ sử dụng đất anh Nguyễn Xuân P và tài sản gắn liền với đất là 01 ngôi nhà xây 03 tầng khung bê tông, tổng diện tích xây dựng là 1.200m2 tồn tại 02 Hợp đồng chuyển nhượng nhưng cả 02 hợp đồng này đều chưa thực hiện việc đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định, cụ thể:

– Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và tài sản gắn liền với đất số 93/2012 ngày 24/3/2012 giữa bên chuyển nhượng anh Nguyễn Xuân P với bên nhận chuyển nhượng ông Phan Văn C, được công chứng tại Văn phòng công chứng L (nay là Văn phòng công chứng T) ngày 24/3/2012, số công chứng: 93, quyển số 01/2012-TP/CC/HĐGD.

– Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và tài sản gắn liền với đất giữa bên chuyển nhượng anh Nguyễn Xuân P với bên nhận chuyển nhượng bà Đậu Thị P được công chứng tại Văn phòng công chứng số 3, tỉnh Lào Cai (nay là Văn phòng công chứng Cam Đường) ngày 06/02/2013, số công chứng: 151, quyển số 01.TP/CC-SCC.

Theo đó, Nguyên đơn ông C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên bố vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng ngày 06/02/2013 giữa anh Nguyễn Xuân P với bà Đậu Thị P.

Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Xuân P có Đơn yêu cầu độc lập, yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố vô hiệu đối với cả 02 hợp đồng nêu trên. Tòa án sơ thẩm nhận định đối với yêu cầu tuyên bố vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng ngày 06/02/2013 giữa anh P với bà P là cùng với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên chỉ thụ lý yêu cầu độc lập về việc: Tuyên bố vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng ngày 24/3/2012 giữa anh P với ông C và buộc ông C phải di dời toàn bộ tài sản ra khỏi nhà và đất của anh P, chấm dứt hành vi cản trở việc sử dụng đất của gia đình anh P là phù hợp.

Đối với Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đậu Thị P và ông Phạm Đình C tại Biên bản giải thích pháp luật ngày 28/3/2023 có ý kiến về việc trường hợp Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa anh P với bà P ngày 06/02/2013 vô hiệu thì yêu cầu giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố vô hiệu như sau: Buộc anh P phải trả cho bà P và ông C số tiền đã trả để mua đất là 6.400.000.000 đồng (Sáu tỷ bốn trăm triệu đồng) và tiền lãi tính từ ngày ký hợp đồng 06/02/2013 đến 28/3/2023 (tính tròn 10 năm) là 4.800.000.000 đồng, tổng cộng là 11.200.000.000 đồng. Ngày 06/7/2023, bà P và ông C có văn bản thay đổi yêu cầu, cụ thể trường hợp Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu thì ông bà yêu cầu giải quyết buộc anh P hoàn trả lại khoản tiền giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo giá thị trường tại thời điểm xét xử. Xét thấy, bà P và ông C đã có yêu cầu về việc giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu nhưng Tòa án sơ thẩm không thực hiện thủ tục để thụ lý yêu cầu độc lập của bà P, ông C là không đúng, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

[3.2] Về việc xác định tư cách tham gia tố tụng trong vụ án:

Quá trình giải quyết vụ án, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà P và ông C cho rằng khi thỏa thuận giao kết Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và tài sản gắn liền với đất ngày 06/02/2013 với anh P thì ông bà đã giao đủ số tiền nhận chuyển nhượng là 6.400.000.000 đồng (Sáu tỷ bốn trăm triệu đồng) và cung cấp chứng cứ là Giấy biên nhận ghi ngày 05/3/2013 thể hiện nội dung giao tiền cho bà Lê Thị Kim D – Địa chỉ: Thôn C, xã H, thành phố L. Đến nay bà P và ông C yêu cầu anh P trả lại số tiền này cũng như tiền chênh lệch giá trị đất, tài sản gắn liền với đất tại thời điểm giao kết hợp đồng so với thời điểm xét xử. Tại Bản tự khai ngày 08/12/2022 và tại phiên tòa sơ thẩm bà D đều khi đã nhận số tiền 6.400.000.000 đồng của bà P và giao lại toàn bộ số tiền cho bà T (mẹ đẻ của anh P) nhưng khi giao không có giấy tờ gì. Như vậy thấy rằng bà D là người trực tiếp nhận tiền của bà P và ông C. Để xem xét giải quyết yêu cầu giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ vô hiệu cần xem xét trách nhiệm, nghĩa vụ của bà D. Tòa án sơ thẩm xác định bà D là người làm chứng là không đúng, trong vụ án cần xác định bà D là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3.3] Về việc áp dụng thời hiệu đối với yêu cầu độc lập của anh Nguyễn Xuân P:

Quá trình giải quyết vụ án, anh P tham gia tố tụng với tư cách là Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập về việc yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên bố vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng ngày 24/3/2012 giữa anh P với ông C và buộc ông C phải di dời toàn bộ tài sản ra khỏi nhà và đất của anh P, chấm dứt hành vi cản trở việc sử dụng đất của gia đình anh P. Tòa án sơ thẩm nhận định về việc tại phiên tòa sơ thẩm Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông C là ông Lê Thanh H yêu cầu áp dụng thời hiệu và căn cứ quy định tại Điều 427 Bộ luật Dân sự 2005: “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm” cho rằng yêu cầu độc lập của anh P đã hết thời hiệu nên đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu này là không đúng. Bởi lẽ việc xác định thời hiệu là áp dụng quy định pháp luật về tố tụng nên cần áp dụng pháp luật tại thời điểm giải quyết vụ án (Bộ luật Dân sự 2015). Hơn nữa yêu cầu độc lập của anh P là yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu chứ không phải yêu cầu liên quan đến tranh chấp hợp đồng dân sự. Do đó cần áp dụng quy định tại Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015 để xem xét giải quyết mới đúng. Ngoài ra, cũng cần xem xét yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu của anh P có thuộc trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội hay do giả tạo theo quy định tại Điều 123, Điều 124 Bộ luật Dân sự 2005 hay không để xác định thời hiệu khởi kiện có bị hạn chế không?

[4] Từ những phân tích trên thấy rằng Tòa án sơ thẩm trong quá trình giải quyết vụ án đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của các đương sự, vụ án không được xem xét giải quyết một cách toàn diện, triệt để. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy kháng cáo của Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Xuân P, bà Đậu Thị P, ông Phạm Đình Cương và kháng nghị của VKSND tỉnh Lào Cai là có căn cứ chấp nhận, cần hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm của TAND thành phố L và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.

[4] Về án phí:

Do Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm nên người kháng cáo anh Nguyễn Xuân P, bà Đậu Thị P, ông Phạm Đình Cương không phải chịu án phí phúc thẩm; Nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm theo quy định tại khoản 3 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[Nguồn: Bản án số 25/2023/DS – PT ngày 24-9-2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI]

Xem file đính kèm toàn văn Bản án số: 25/2023/DS – PT

………………….

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Phước Ninh, Quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, quận Thuận Hoá, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường 6, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 2, Star Tower, số 68 Dương Đình Nghệ, phường Yên Hoà, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

Quốc lộ 1A, Khối 11, phường Quỳnh Xuân, Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Vinh Tân, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage LUẬT SƯ FDVN: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan