Feel free to go with the truth

Trang chủ / Nghiên cứu học tập / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án sơ thẩm tranh chấp về thừa kế tài sản, yêu cầu hủy GCNQSDĐ

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án sơ thẩm tranh chấp về thừa kế tài sản, yêu cầu hủy GCNQSDĐ

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan, toàn diện và đầy đủ chứng cứ; Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

Về tố tụng:

+ Đơn kháng cáo của ông Trang Ngọc S làm trong hạn luật định và hợp lệ được xem xét tại cấp phúc thẩm theo quy định tại Điều 273, 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vắng mặt nên căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.

+ Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp, thời hiệu khởi kiện và thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại Điều 26, 34, 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

[1] Nguyên đơn bà Trang Thị D cho rằng phần đất có diện tích 33.650m2 thuộc các thửa đất số 450, 451, 452, 534, 535, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện D, tỉnh Tây Ninh(đo thực tế là 34.555,1m2) do UBND huyện D cấp GCNQSSĐ cho ông Trang Ngọc S ngày 10/01/1995 là di sản thừa kế của cụ Trang Văn Đ và cụ Huỳnh Thị Ú để lại nên yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với phần diện tích đất nêu trên cho 06 người con của cụ Ú và cụ Đ gồm: Trang Thị D, Trang Thị C, Trang Thị L, Trang Hoa H, Trang Ngọc S và Trang Hồng C1.

Theo đó, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào việc các đương sự (cả phía nguyên đơn, bị đơn) đều thống nhất thừa nhận nguồn gốc đất tranh chấp có diện tích 33.650m2 (đo thực tế là 34.555,1m2) là do cụ Trang Văn Đ, cụ Huỳnh Thị Ú cùng các con của cụ Đ khai phá vào khoảng năm 1975-1976; Và bị đơn ông Trang Ngọc S không chứng minh được phần đất tranh chấp được cụ Đ, cụ Ú khi còn sống đã chia cho ông S; Nên, xác định quyền sử dụng diện tích 33.650m2 đất nêu trên là di sản thừa kế của cụ Đ và cụ Ú là chưa vững chắc.

Tại GCNQSDĐ của UBND huyện D cấp cho ông Trang Ngọc S ngày 10/01/1995, gồm thửa 450, 451, 452, 534, 535 với tổng diện tích là 33.650m2; mục đích sử dụng là đất lúa. Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không làm rõ hồ sơ cấp GCNQSDĐ của UBND huyện D cho ông S là trên cơ sở nào? Sau khi cụ Đ, cụ Ú già yếu không trực tiếp canh tác thì ngoài ông Trang Ngọc S còn có những ai trực tiếp quản lý, canh tác sử dụng phần diện tích 33.650m2 vào mục đích trồng lúa? Theo quy định của pháp luật đất đai vào thời điểm cấp GCNQSDĐ cho ông S thì “Đất đai thuộc sử hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý, Nhà nước giao đất cho người có nhu cầu sử dụng đất”;

Vậy người có nhu cầu sử dụng đất đối với diện tích 33.650m2 vào mục đích trồng lúa là gồm những ai? Khi cụ Đ, cụ Ú không còn sử dụng đất thì diện tích 33.650m2 đất trồng lúa nêu trên cụ Đ, cụ Ú giao cho ai tiếp tục quản lý sử dụng, hay là để đất trống. Sau khi không sử dụng đất thì cụ Đ, cụ Ú có thực hiện đóng thuế đất hay không? Căn cứ nào để xác định phần đất nông nghiệp này là cụ Đ, cụ Ú sử dụng liên tục lâu dài từ đó mới có cơ sở xác định phần đất này có phải là di sản thừa kế hay không.

Thấy rằng, những nội dung trên chưa được Tòa án cấp sơ thẩm làm rõ nhưng lại xác định diện tích 33.650m2 đất trồng lúa nêu trên thuộc di sản thừa kế của cụ Đ, cụ Ú để chia thừa kế là thiếu sót nghiêm trọng.

[2] Với những thiếu sót nghiêm trọng nêu trên của Tòa án cấp sơ thẩm không thể khắc phục được tại cấp phúc thẩm; Nên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trang Ngọc S; Hủy bản án sơ thẩm giao hồ sơ về cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do hủy bản án sơ thẩm nên ông Trang Ngọc S không phải chịu.

Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng sẽ được xem xét quyết định khi giải quyết lại sơ thẩm.

[Nguồn: Bản án số 214/2025/DS-PT ngày 08//2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TÒA PHÚC THẨM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]

Xem file đính kèm toàn văn Bản án số: 214/2025/DS-PT

………………….

Luật sư tại Đà Nẵng

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 2, Star Tower, số 68 Dương Đình Nghệ, phường Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan