
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Phần đất có diện tích 1.625m2 (đo đạc thực tế là 1.626,8m2 ) thuộc thửa số 16, tờ bản đồ số 5 tại thôn Thủy B, xã Cam An B, huyện Cam L, tỉnh Khánh Hòa, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 06/9/1997 thuộc quyền sử dụng của cụ Nguyễn Thị D1. Theo Đơn đăng ký quyền sử dụng đất ngày 20/01/1997, cụ D1 đăng ký, kê khai với diện tích đất 1.625m2 , nguồn gốc là do tự khai phá năm 1973.
[2] Ngày 10/2/1996, bà Nguyễn Thị H (là con của cụ D1 và cụ Nguyễn Quang D) chuyển nhượng một phần diện tích đất của thửa đất số 16 nêu trên, diện tích 500m2 (10x50m) với giá chuyển nhượng 10.000.000 đồng cho anh Bùi Trọng H2 (là con rể bà H), giấy sang nhượng đất có chữ ký người làm chứng là bà Nguyễn Thị T2 và ông Dương K.
[3] Ngày 04/10/1998, bà H tiếp tục chuyển nhượng cho ông Dương K (là em chồng của bà H) diện tích 9x50m thuộc một phần thửa đất số 16 với giá chuyển nhượng là 03 cây vàng thể hiện tại “Giấy bán nhà”. Ngày 10/7/2000, bà H và ông K ký kết “Giấy sang nhượng một phần đất thổ cư” để xác nhận lại nội dung của “Giấy bán nhà” nêu trên.
[4] Theo Biên bản lấy lời khai ngày 20/11/2019, anh H2, chị T1 cho biết tại thời điểm mua bán, do là người trong gia đình nên hai bên chỉ viết tay, giấy sang nhượng đất không có công chứng, chứng thực; cụ D1 đã lớn tuổi, không biết chữ, bà H là người trực tiếp nuôi dưỡng và sống chung cùng cụ D1 nên đứng ra viết giấy mua bán. Tại Đơn trình bày ngày 29/10/2019 và Biên bản lấy lời khai ngày 20/11/2019, ông Dương K xác nhận: Nhà, đất mà bà H bán cho ông là của cụ D1. Năm 1998, cụ D1 có nói bán cho ông một phần đất (gồm 01 căn nhà, phần mái gỗ, tôn đã cũ), do cụ D1 đã già yếu, không biết chữ nên giao cho bà H thỏa thuận với ông. Ngày 04/10/1998, bà H viết giấy bán đất cho ông với diện tích khoảng 450m2 , giá 30 chỉ vàng. Năm 2000, do Giấy bán đất năm 1998 đã cũ nên bà H viết lại cho ông K tờ giấy mới là “Giấy sang nhượng một phần đất thổ cư”. Như vậy, ông K, chị T1, anh H2 đều xác định diện tích đất chuyển nhượng là của cụ D1, cụ D1 không ký kết vào các giấy chuyển nhượng, người ký chuyển nhượng là bà H. Bà H không phải chủ sử dụng hợp pháp đối với thửa đất số 16 nhưng lại thực hiện giao dịch chuyển nhượng cho chị T1, anh H2 và ông K là trái pháp luật, vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 131, Điều 136, Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 1995. Chị T1, anh H2, ông K cho rằng cụ D1 giao cho bà H đứng ra chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng không có chứng cứ chứng minh hay văn bản ủy quyền của cụ D1 ủy quyền cho bà H thực hiện các giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên.
[5] Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định việc chuyển nhượng giữa bà H với anh H2, giữa bà H với ông K không bị vô hiệu theo hướng dẫn tại điểm b.3 điểm b tiểu mục 2.2 mục 2 phần II Nghị quyết số 02/2004/NQHĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Án lệ số 16/2017/AL ngày 28/12/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Tuy nhiên, giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà H với anh H2 và giữa bà H với ông K vi phạm về chủ thể chuyển nhượng theo quy định tại điểm a.5 tiểu mục 2.3 mục 2 phần II Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; năm 1996, bà H chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất cho anh H2, nhưng năm 1997 cụ D1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với toàn bộ diện tích thửa đất số 16 là 1.625m2 ; đồng thời, hiện nay anh H2 và ông K chưa đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích nhận chuyển nhượng. Do đó, Tòa án hai cấp áp dụng điểm b.3 điểm b tiểu mục 2.2 mục 2 phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 và Án lệ số 16/2017/AL ngày 28/12/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là không đúng. Như vậy, giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà H với anh H2 và giữa bà H với ông K bị vô hiệu theo quy định tại Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 1995. Cụ D1 chết, không để lại di chúc nên di sản của cụ D1 để lại để chia theo pháp luật là toàn bộ diện tích đất 1.626,8m2 thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 05 (thửa mới là số 28) tại thôn Thủy B, xã Cam An B, huyện Cam L, tỉnh Khánh Hòa.
[6] Đồng thời, bà C và những người thừa kế gồm bà H1, bà C1 có nguyện vọng được nhận di sản bằng hiện vật để làm nơi thờ cúng, Tòa án hai cấp cho rằng các bà đã có nhà ở ổn định nên giao toàn bộ nhà đất có diện tích 559,2m2 tại thôn Thủy B, xã Cam An B, huyện Cam L, tỉnh Khánh Hòa (là diện tích đất còn lại của thửa đất số 16) cho bà H, trong khi bà H đang định cư tại nước ngoài và bà H cũng không có ý kiến về việc nhận di sản bằng giá trị hay hiện vật là không đảm bảo quyền lợi cho bà C và những người thừa kế khác.
[Nguồn: Quyết định GĐT số 29/2024/DS-GĐT ngày 21/6/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO]
Xem file đính kèm toàn văn Quyết định số: 29/2024/DS-GĐT
………………….
Luật sư tại Đà Nẵng:
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Star Tower, số 68 Dương Đình Nghệ, phường Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn