
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét khách quan, toàn diện ý kiến của các bên đương sự, người đại diện của đương sự, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1].Về tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn nộp đơn khởi kiện yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bị đơn có địa chỉ tại xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Tòa án cấp sơ thẩm xác định đây là vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên là đúng quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Ngày 09/4/2024 Tòa án nhân dân huyện Đ tuyên bản án sơ thẩm, ngày
22/4/2024 bị đơn bà Nguyễn Thị S nộp đơn kháng cáo; ngày 24/4/2024 Nguyên đơn bà Đào Thị N nộp đơn kháng cáo. Căn cứ quy định tại các Điều 271, 272, 273, 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự kháng cáo của Nguyên đơn, bị đơn là hợp lệ được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[1.3] Ngày 22/4/2024, Luật sư Nguyễn Cảnh P là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn nộp đơn kháng cáo. Theo quy định tại Điều 76 và Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì “Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự” không có quyền kháng cáo, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không trả lại đơn kháng cáo mà thông báo cho Luật sư Phương nộp tạm ứng án phí phúc thẩm tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Điện Biên theo biên lai số 0000226 ngày 02/5/2024 là không đúng. Tại phiên tòa phúc thẩm, Luật sư Nguyễn Cảnh P đã xin rút đơn kháng cáo.
[1.4] Tranh chấp giữa bà Đào Thị N và bà Nguyễn Thị S là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giao dịch được thực hiện từ năm 1997 nhưng các bên chưa hoàn tất thủ tục chuyển nhượng dẫn đến tranh chấp, Tòa án các cấp đã nhiều lần giải quyết. Ngày 20/4/2009 Tòa án nhân dân huyện Đ thụ lý vụ án “tranh chấp hợp đồng mua bán nhà đất” giữa Nguyên đơn bà Nguyễn Thị S với bị đơn bà Đào Thị N, quá trình giải quyết vụ án bà S rút đơn khởi kiện nên Tòa án đã ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự: 05/2010/QĐST HĐMBNĐ ngày 21/7/2010, quyết định này không bị kháng cáo, kháng nghị.
Căn cứ quy định tại Điều 429 của BLDS, thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa
án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Ngày 01/03/2024 bà Đào Thị N khởi kiện tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất sau hơn 12 năm mà không có lý do trở ngại khách quan hoặc vì sự kiện bất khả kháng theo quy định tại Điều 156 của BLDS. Do đó yêu cầu khởi kiện của bà N đã hết thời hiệu khởi kiện.
Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, bị đơn bà Nguyễn Thị S nhiều lần
đưa ra yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện trước khi Tòa án ra bản án sơ thẩm theo quy định tại Điều 184 của BLTTDS nhưng Tòa án không xem xét, giải quyết là đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.
[1.5] Trong suốt quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, Thẩm phán được
phân công giải quyết vụ án chỉ tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ một lần, mà không tổ chức hòa giải giữa các đương sự trong vụ án để tạo điều kiện cho các đương sự thỏa thuận, hòa giải việc giải quyết vụ án. Các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm thể hiện vụ án không thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của BLTTDS. Việc Tòa án không tiến hành hòa giải là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng quy định tại Điều 10, khoản 7 Điều 48, điểm g khoản 2 Điều 203, Điều 205 của BLTTDS.
[2] Về nội dung:
Qua xem xét tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của đương sự tại phiên tòa phúc thẩm thấy rằng, quá trình giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm còn có một số thiếu sót:
[2.1] Ngày 24/3/2023 bà N, ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà S tiếp tục thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được ký kết ngày 05/7/1997.
Ngày 26/4/2024, bà S gửi đơn yêu cầu phản tố với nội dung: Đề nghị Tòa tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu và giải quyết các vấn đề của hợp đồng vô hiệu; đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện về hợp đồng để ra quyết định đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn theo Điểm e Khoản 1 Điều 217/BLTTDS; đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời yêu cầu bà N tháo dỡ cọc và rào xung quanh khu đất và nhà của tôi trả lại khu đất và nhà cho tôi theo quy định tại Điều 111/BLTTDS. Tòa án cấp sơ thẩm không làm rõ các yêu cầu này để xem xét, thụ lý là làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.
Ngày 08/6/2023 bà S có đơn yêu cầu phản tố với nội dung: Số tiền 39.800.000đ (ba mươi chín triệu tám trăm nghìn đồng) bà N đưa cho bà S từ năm 1997 là tiền bà N đặt cọc mua bán nhà mà không phải là tiền thanh toán hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bởi vì không có hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, không có hợp đồng viết tay chuyển nhượng quyền sử dụng đất như bà N khởi kiện. Tòa án cấp sơ thẩm đã thụ lý yêu cầu này. Xét thấy, mặc dù tiêu đề đơn viết là “Đơn phản tố”, nhưng thực chất đây là ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, không có nội dung nào thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 200 của BLTTDS. Tòa án cấp sơ thẩm xác định không đúng yêu cầu phản tố của bị đơn nên thụ lý, giải quyết không đúng quy định của pháp luật. Do yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn hết thời hiệu (như đã phân tích tại mục [1.4] nêu trên) nên ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn cũng hết thời hiệu.
[2.2] Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ xác định thửa đất đang tranh chấp có hướng Nam giáp đất nhà bà S là xác định không đúng chủ đất liền kề, bởi Giấy CNQSDĐ của thửa đất liền kề vẫn mang tên ông Lê Trọng M (chồng bà S, đã chết). Tại sơ đồ mảnh Tch đo số 930-2023 ngày 09/11/2023 xác định tổng diện tích đất là 603,8 m2, trong đó có 121,4m2 diện tích nằm trong hành lang an toàn giao thông (bao gồm cả đất ở ONT và đất trồng cây hàng năm BHK), nhưng không xác định được có bao nhiêu m2 đất ONT, bao nhiêu m2 đất BHK và vị T cụ thể của các loại đất này.
Nguyên đơn khai mốc giới đất mua của bà S được đóng cọc bê tông để xác
định ranh giới; quá trình giải quyết vụ án, bà S có yêu cầu tháo dỡ cọc và hàng rào xung quanh khu đất, nhưng xem xét, thẩm định tại chỗ không xác định có hay không hàng cọc bê tông này, vị T và đặc điểm của cọc bê tông để làm cơ sở đánh giá tính hợp pháp của lời khai đương sự và những người làm chứng trong vụ án.
[2.3] Tại Biên bản định giá tài sản ngày 15/12/2023, thửa đất đang tranh chấp có diện tích 603,8m2 (trong đó có 121,4m2 nằm trong hành lang an toàn giao thông chưa có quyết định thu hồi), với chiều rộng giáp mặt đường 279 là 15m, chiều rộng phía sau là 7,5m (thửa đất hình bình hành, rộng phía trước, hẹp phía sau), nhưng Hội đồng định giá lại căn cứ vào giá trị thị trường thửa đất có chiều rộng mặt trước và mặt sau bằng nhau là 270 triệu/một mét mặt đượng để tính giá trị chung cho cả thửa đất đang tranh chấp (15m x 270.000.000đ = 4.050.000.000đ) là không phù hợp với thực trạng và giá thị trường của thửa đất, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, vi phạm khoản 2 Điều 2 Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BTC ngày 28/3/2014 của VKSNDTC, TANDTC, Bộ Tư pháp, Bộ Tài Chính hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về định giá tài sản, thẩm định giá tài sản. Bị đơn Nguyễn Thị S không đồng ý với Biên bản định giá và có đơn đề nghị Toà án cấp sơ thẩm tiến hành định giá lại nhưng Toà án cấp sơ thẩm không xem xét, giải quyết là vi phạm khoản 5 Điều 104 BLTTDS.
[2.4] Về thu thập tài liệu, chứng cứ:
Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành thu thập các tài liệu pháp lý xác định nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp như: sổ mục kê, sổ địa chính, Tch lục bản đồ địa chính để làm rõ đất đang tranh chấp là của ai; các tài liệu xác định diện tích đất tranh chấp có trùng với phần diện tích đất giáp ranh đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Lê Trọng M (chồng bà S) hay không.
Bà N cung cấp 05 biên lai thu thuế nhà đất của các năm: 2007, 2008, 2009 (có 2 biên lai), 2010; các biên lai này mang tên bà N, ông T, số tiền nộp thuế hàng năm không giống nhau. Tòa án không xác minh đây là thuế đất ở hay đất nông nghiệp, vị T đất nộp thuế có đúng là thửa đất bà N và bà S đang tranh chấp hay không, số tiền thuế đã nộp tương đương với diện tích đất bao nhiêu.
Bà S cung cấp 14 biên lai thu thuế nhà đất của các năm 2007, 2008, 2009, các biên lai này mang tên người nộp thuế là Lê Trọng M (có biên lai ghi là Lê Văn M), Nguyễn Thị S, Lê Xuân T , Lê Trọng Cường. Nhưng Tòa án không xác minh đây là thuế nhà đất của thửa đất nào, có đúng là thửa đất đang tranh chấp hay không, số tiền thuế đã nộp tương đương với diện tích đất bao nhiêu.
Tranh chấp giữa bà N và bà S kéo dài từ năm 1997, đã được Tòa án các cấp giải quyết qua nhiều vòng tố tụng, nhưng Tòa án không thu thập kết quả giải quyết để xem xét, đánh giá toàn diện bản chất vụ án.
Một số tài liệu, chứng cứ là bản phô tô, không rõ nguồn chứng cứ nhưng được sử dụng để giải quyết vụ án là chưa đảm bảo tính hợp pháp của chứng cứ quy định tại Điều 93, 94, 95 của BLTTDS.
[3] Từ những phân tích, đánh giá trên, thấy rằng:
Tòa án cấp sơ thẩm có nhiều vi phạm trong quá trình giải quyết vụ án, thu thập tài liệu, chứng cứ không đầy đủ dẫn đến việc giải quyết chưa toàn diện, khách quan. Đáng lẽ chỉ cần hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại theo quy định tại khoản 3 Điều 308, khoản 1 và khoản 2 Điều 310 BLTTDS. Nhưng yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn đã hết thời hiệu khởi kiện, bị đơn đưa ra yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm cần căn cứ vào điểm e khoản 1 Điều 217, khoản 4 Điều 308, Điều 311 để hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ việc giải quyết vụ án.
[4] Ý kiến phát biểu của đại diện VKSND tỉnh Điện Biên tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ. Kháng cáo của Nguyên đơn bà Đào Thị N và của bị đơn bà Nguyễn Thị S là có căn cứ nên được chấp nhận.
[5] Về án phí:
Căn cứ khoản 1 Điều 148 của BLTTDS; khoản 3 Điều 18, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Các đương sự không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại cho bà Đào Thị N số tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp là 1.000.000đ (một triệu đồng) theo biên lai số: 0005164 ngày 24/3/2023 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đ. Trả lại cho bà Nguyễn Thị S số tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0005232 ngày 08/6/2023 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đ.
Trả lại cho ông Nguyễn Cảnh P số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là
300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000226 ngày 02/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ.
[6] Về chi phí tố tụng: Căn cứ khoản 5 Điều 157; khoản 4, 5 Điều 165 của
BLTTDS.
Bà Đào Thị N là người có yêu cầu xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài
sản nên bà N phải chịu các chi phí này, cụ thể: chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là: 6.476.000đồng (sáu triệu bốn trăm bảy mươi sáu nghìn đồng); Chi phí định giá tài sản ngày 15/12/2023 là: 1.900.000 đồng (một triệu chín trăm nghìn đồng) – các chi phí tố tụng này bà N đã chi phí xong.
[Nguồn: Bản án số 10/2024/DS-PT ngày 9/9/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN]
Xem file đính kèm toàn văn Bản án số: 10/2024/DS-PT
………………….
Luật sư tại Đà Nẵng:
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Phước Ninh, Quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, quận Thuận Hoá, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường 6, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Star Tower, số 68 Dương Đình Nghệ, phường Yên Hoà, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
Quốc lộ 1A, Khối 11, phường Quỳnh Xuân, Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Vinh Tân, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage LUẬT SƯ FDVN: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn