
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thu N1, bà Nguyễn Thị O, ông Nguyễn Quốc G là trong thời hạn luật định. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật.
[1.2] Quá trình tố tụng tại cấp phúc thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc T và bà Nguyễn Thị O có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ theo Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án cấp phúc thẩm xét xử vắng mặt các đương sự này.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ nhân thân:
Theo Tờ trình về quan hệ nhân thân (có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường M, thành phố B) ngày 25/12/2023 và lời trình bày của các đương sự trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án, quan hệ nhân thân của các đương sự thể hiện như sau:
Bà Bùi Thị N2 (sinh năm 1955, chết ngày 11/11/2017) và ông Nguyễn Quốc N (sinh năm 1947, chết ngày 01/10/2024) là vợ chồng.
Cha của bà N2 là cụ Bùi Đình Đ (sinh năm 1930, chết ngày 17/01/1983) và mẹ của bà N2 là cụ Nguyễn Thị T1 (sinh năm 1926, chết ngày 17/10/2022).
Cha của ông Nguyễn Quốc N là cụ Nguyễn Văn M (sinh năm 1902, chết năm 1968); mẹ của ông Nguyễn Quốc N là cụ Nguyễn Thị M1 (sinh năm 1906, chết năm 1989.
Quá trình chung sống, bà N2 và ông N có 06 (sáu) người con bao gồm: Bà Nguyễn Thị Mỹ H (sinh năm 1974), bà Nguyễn Thị O (sinh năm 1975), ông Nguyễn Quốc G (sinh năm 1977), bà Nguyễn Thu N1 (sinh năm 1980), ông Nguyễn Quốc T (sinh năm 1982) và ông Nguyễn Quốc P (sinh năm 1986).
[2.2] Về hàng thừa kế:
Bà Bùi Thị N2 sinh năm 1955, chết ngày 11/11/2017, bà N2 chết không để lại di chúc. Do đó, theo điểm a khoản 1 Điều 650 của Bộ luật Dân sự năm 2015, thừa kế theo pháp luật.
Quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm, tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện cụ Nguyễn Thị T1, sinh năm 1926 đã lập Văn bản từ chối nhận di sản thừa kế ngày 29/12/2017 (bút lục 06a) tại Văn phòng C, huyện K, tỉnh Ninh Bình để từ chối nhận phần di sản mà mình được hưởng do bà N2 chết để lại. Cụ thể là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 62, tờ bản đồ số 19 diện tích 21.410m2 tọa lạc tại xã A, huyện B, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 568277 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 06/5/2003 cho ông Nguyễn Quốc N. Cụ T1 tự nguyện từ chối nhận phần di sản mà mình được hưởng và nhường kỷ phần di sản mà cụ được hưởng cho cháu là ông Nguyễn Quốc T. Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét nội dung của văn bản từ chối nhận di sản thừa kế của cụ T1 làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông T.
Ngoài ra, cụ T1 không lập bất kỳ văn bản nào khác về việc từ chối nhận các phần di sản còn lại của bà N2 ngoài quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 62, tờ bản đồ số 19. Bà N2 chết ngày 11/11/2017 theo Trích lục khai tử số 1135/TLKT-BS ngày 22/11/2017 của Ủy ban nhân dân phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương và cụ T1 chết ngày 17/10/2022 theo Trích lục khai tử số 716/TLKT-BS ngày 01/12/2023 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình.
Do đó, căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 651 của Bộ luật Dân sự năm 2015, hàng thừa kế thứ nhất của bà N2 tại thời điểm bà N2 chết (ngày 11/11/2017) bao gồm 08 người là cụ T1, ông N, bà H, bà O, ông G, bà N1, ông T và ông P. Cụ T1 chết ngày 17/10/2022 thì hàng thừa kế thứ nhất cụ T1 sẽ được hưởng phần di sản mà cụ T1 được hưởng từ bà N2 (ngoại trừ quyền sử dụng đất thuộc thửa 62 mà cụ T1 đã từ chối nhận di sản). Ông N chết ngày 01/10/2024 thì hàng thừa kế thứ nhất của ông N sẽ được hưởng phần di sản mà ông N được hưởng từ bà N2.
[2.3] Trong vụ án này, hồ sơ vụ án đã thể hiện ông Nguyễn Quốc G lập văn bản trình bày ý kiến ngày 15/01/2025 cho rằng di sản của bà N2 và ông N để lại còn bao gồm thửa đất số 451, tờ bản đồ số 19 tọa lạc tại xã A, thành phố B (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận số AB 95354 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 06/04/2005 cho ông Nguyễn Quốc N. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập tài liệu, chứng cứ và xác minh làm rõ đối với thửa đất số 451.
Xét thấy, cụ T1 đã lập Văn bản từ chối nhận di sản thừa kế ngày 29/12/2017 tại Văn phòng C để từ chối nhận phần di sản mà mình được hưởng do bà N2 chết để lại đối với thửa đất số 62, tờ bản đồ số 19. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập, xác minh làm rõ ý kiến của cụ T1 đối với các thửa đất số 59 và 60, đều thuộc tờ bản đồ số 19; thửa đất số 139, tờ bản đồ số 38; và thửa đất số 451, tờ bản đồ số 19 là di sản của bà Bùi Thị N2 chết để lại. Trong trường hợp cụ T1 không từ chối nhận các phần di sản còn lại (ngoại trừ quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 62) thì Tòa án phải thu thập, xác minh làm rõ hàng thừa kế thứ nhất của cụ T1 để phân chia phần di sản mà cụ T1 hưởng từ khối di sản của bà N2 chết để lại theo đúng quy định của pháp luật.
[2.4] Bên cạnh đó, theo văn bản trình bày ý kiến ngày 15/01/2025, ông G trình bày rằng lúc sinh thời thì bà N2 và ông N có gửi tiền tiết kiệm tại Ngân hàng TMCP N4 (A) khu phố B, phường M, thành phố B (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh) với số tiền khoảng 10.000.000.000 đồng (Mười tỷ đồng) và một xe ô tô 7 chỗ mang nhãn hiệu Ford Everest biển số 61A-070.23 do bà N2 đứng tên. Khi bà N2 mất thì ông N, bà H và ông T có đi rút số tiền gửi tiết kiệm này và hiện nay ông T và bà H chia nhau giữ, do đó ông G yêu cầu làm rõ số tiền này và chia số tiền nêu trên và chia bằng tiền đối với giá trị chiếc xe ô tô cho 06 người, mỗi người một phần bằng nhau. Tại phiên tòa sơ thẩm, biên bản phiên tòa ghi nhận lời trình bày của bà H (bút lục 260) rằng bà đã trả cho ông N số tiền 3.000.000.000 đồng (Ba tỷ đồng). Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ được nội dung liên quan đến số tiền này và số tiền gửi tiết kiệm ngân hàng cũng như tài sản là xe ô tô do bà N2 đứng tên là giải quyết vụ án chưa triệt để.
[3] Từ những phân tích trên, căn cứ theo khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án cấp sơ thẩm chưa điều tra, thu thập, xác minh chứng cứ đầy đủ để giải quyết vụ án mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được. Do đó, kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thu N1, bà Nguyễn Thị O, ông Nguyễn Quốc G là có cơ sở chấp nhận nên Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không phải chịu.
[NGUỒN: Bản án số 1439/2025/DS-PT NGÀY 18/11/2025 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]
LINK PDF: Bản án số 1439/2025/DS-PT
………………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn