
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C làm trong thời hạn luật định, hợp lệ, đủ điều kiện để thụ lý, xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Người bị kiện đã được triệu tập hợp lệ đến lấn thứ hai mà vẫn vắng mặt; ông Nguyễn Văn C kháng cáo nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành phiên tòa xét xử phúc thẩm vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 225 Luật tố tụng hành chính năm 2015.
[2] Bà Vũ Thị H1 khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DH459873 đứng tên ông Nguyễn Văn C và bà Ngô Thị Thu V1 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 14/9/2022.
Tòa án cấp sơ thẩm xác định đối tượng khởi kiện, người bị kiện và thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền, còn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 3, Điều 30, Điều 32, Điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
[3] Về thẩm quyền ban hành quyết định hành chính bị khởi kiện:
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DH459873 cho ông Nguyễn Văn C và bà Ngô Thị Thu V1 ngày 14/9/2022 là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 105 Luật đất đai năm 2013; khoản 1 Điều 37 của Nghị định số: 43/2024/NĐ-CP ngày 15/5/2024 quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai.
[4] Về căn cứ ban hành quyết định hành chính bị khởi kiện:
[4.1] Tại Văn bản số: 5381/CNTB-TTLT ngày 03 tháng 11 năm 2023 (Bút lục 82) Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ chi nhánh T5 xác định: Nguồn gốc từ thửa 58 tờ bản đồ số 36 của ông Đinh Quang L được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 15/01/2003 sau đó ông L chuyển nhượng cho ông Đào Mạnh T1 300m2 đất RTS tách thành thửa mới 68 và ông T1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 19/01/2004 đối với diện tích 300m2 đất RTS thuộc thửa 68 tờ bản đồ số 36. Ngày 22/3/2004, ông T1 lập hợp đồng chuyển nhượng cho ông Trần Văn A thửa 68 tờ bản đồ số 36, ông A xin chuyển mục đích sử dụng 100m2 đất ở và hộ ông Trần Văn A được UBND huyện T cấp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 369618 ngày 04/4/2005 đối với diện tích 300m2 đất ONT + RSX thuộc thửa 68 tờ bản đồ số 36. Ngày 03/10/2013, ông A chuyển nhượng cho bà Vũ Thị H1 diện tích 300m2 đất ONT + RSX thuộc thửa 68 tờ bản đồ số 36 được Văn phòng đăng ký đất đai Trảng Bom chứng nhận chuyển quyền sử dụng cho bà H1 trên mặt 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 18/10/2013.
[4.2] Đối với thửa đất số 08, tờ bản đồ số 40 tọa lạc tại xã B huyện T có nguồn gốc từ thửa 126 (được tách ra từ thửa 51) tờ bản đồ số 36 diện tích 831m2 đất ONT + LNK do UBND huyện T cấp cho bà Nguyễn Thị T4 vào ngày 22/02/2004. Đến năm 2015, bà T4 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Tri P và bà Ngô Thị Thu T2 đã được Sở Tài nguyên và Môi trường cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 530005 ngày 18/9/2015 đứng tên ông Nguyễn Tri P và bà Ngô Thị Thu T2 theo bản đồ địa chính năm 2013 thành thửa mới số 8 tờ bản đồ số 40 diện tích 696,7m2 đất. Tháng 10/2015, ông P, bà T2 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn C và bà Ngô Thị Thu V1, ngày 10/11/2015 ông C và bà V1 được Sở Tài nguyên và Môi trường cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU155133 đối với thửa đất số 8 tờ bản đồ số 40 diện tích 696,7m2 đất.
Ngày 21/02/2022, ông C và bà V1 có làm đơn có mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến ngày 14/9/2022, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ ban hành Quyết định số:1467/QĐ-STNMT về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU 155133 ngày 10/11/2015. Cùng ngày 14/9/2022, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho ông Nguyễn Văn C và bà Ngô Thị Thu V1 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DH459873 đối với diện tích 696,7m2 đất ở tại nông thôn và đất trồng cây lâu năm.
[5] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn C, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[5.1] Tại trích đo bản đồ địa chính thửa đất (bút lục số 88) do phòng địa chính nhà đất huyện T lập ngày 22/5/2003 đã xác định thửa đất số 68 tờ bản đồ số 36 diện tích 300m2 (thửa 68 được tách ra từ thửa 58) và thửa 68 tiếp giáp với thửa 51; Tại trích đo bản đồ địa chính thửa đất (bút lục số 91) do Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T lập ngày 18/10/2004 đã xác định thửa đất số 126 tờ bản đồ số 36 diện tích 831m2 (thửa 126 được tách ra từ thửa 51) và thửa 126 tiếp giáp với thửa 58.
Tại các văn bản số: 6743/VPĐK-ĐĐĐ ngày 13/9/2024 và Văn bản số: 7639/VPĐK-ĐĐĐ của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ có ý kiến: “…Tờ bản đồ địa chính số 36 xã B, huyện T tỷ lệ 1:2000 thành lập năm 1997, trên hệ HN-72 bằng phương ảnh hàng không kết hợp đo vẽ ngoài thực địa, chuyển vẽ thủ công trên nền giấy Diamat, sau đó được số hóa lại thành file bản đồ số; Tờ bản đồ địa chính số 40 xã B, huyện T Thành tỷ lệ 1:2000 thành lập năm 2013, trên hệ VN-2000 bằng phương pháp bản đồ số; Do hai tờ bản đồ được thành lập tại hai thời điểm, trên hai hệ tọa độ khác nhau nên có độ chính xác khác nhau. Do đó, khi chồng ghép hai hệ thống bản đồ này với nhau thì có sự chênh lệch, việc chồng ghép mang tính tham khảo, không đủ cơ sở để đánh giá sự sai lệch về diện tích khi chồng ghép; Do hai bộ bản đồ được thành lập tại hai thời điểm, trên hệ tọa độ khác nhau, phương pháp thành lập khác nhau có dịch chuyển, kéo để tương đồng việc chồng ghép chỉ mang tính tham khảo…”
Như vậy, theo ý kiến của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ xác định: Do hai tờ bản đồ được thành lập tại hai thời điểm, trên hai hệ tọa độ khác nhau nên có độ chính xác khác nhau. Do đó, khi chồng ghép hai hệ thống bản đồ này với nhau thì có sự chênh lệch, việc chồng ghép mang tính tham khảo, không đủ cơ sở để đánh giá sự sai lệch về diện tích khi chồng ghép bản đồ.
[5.2] Trong khi đó, tại Văn bản số: 6371/VPĐK-TTLT ngày 01/12/2021 (bút lục 016) của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ chi nhánh T5 xác định:
“Thửa đất số 68, tờ số 36, bản đồ địa chính xã B (cũ) có diện tích 300m2 đất rừng sản xuất đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận QSDĐ số Y577950 ngày 19/01/2004 đứng tên ông Đào Mạnh T1 (tách từ thửa 58, tờ 36 có diện tích 7.506m2 đất rừng sản xuất đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận QSDĐ số W344821 ngày 15/01/2003 đứng tên ông Đinh Quang L). Năm 2005, chuyển nhượng cho hộ ông Trần Văn A được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận QSDĐ số AB369618 ngày 04/4/2025 (chuyển nhượng đồng thời chuyển mục đích diện tích 100m2 từ đất rừng sản xuất sang đất ở nông thôn). Tháng 10/2013, chuyển nhượng cho bà Vũ Thị H1 được Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh T5 xác nhận sang tên trên giấy chứng nhận ngày 8/10/2013. Hiện nay chưa được cấp đổi theo bản đồ địa chính xã B (mới) …
Thửa đất số 76, tờ số 36, bản đồ địa chính xã B (cũ) có diện tích 300m2 đất rừng sản xuất đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận QSDĐ số Y577951 ngày 19/01/2004 đứng tên ông Cao Thế A1 (tách từ thửa 58, tờ 36 có diện tích 7.506m đất rừng sản xuất đã được UBND huyện cấp giấy chứng nhận QSDĐ số W344821 ngày 15/01/2003 đứng tên ông Đinh Quang L). Năm 2005, chuyển nhượng cho hộ ông Trần Văn A đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận QSDĐ số AB369620 ngày 04/4/2005 (chuyển nhượng đồng thời chuyển mục đích diện tích 100m2 từ đất rừng sản xuất sang đất ở nông thôn). Tháng 10/2013, chuyển nhượng cho ông Nguyễn Phúc A2 đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận QSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BO722759 ngày 16/01/2014. Hiện nay chưa được cấp đổi theo bản đồ địa chính xã B (mới)…”
Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, đo vẽ ngày 30/7/2024 và Trích lục và đo hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 3754/2024 ngày 16/8/2024 Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ tiến hành chồng ghép bản đồ địa chính cũ thành lập năm 1997 xác định: Thửa đất số 08 tờ bản đồ số 40 (thửa cũ 126 tờ bản đồ số 36) chồng ghép lên bản bản đồ địa chính năm 1997 có số thửa [68] và [76] (BL135). Tuy nhiên việc đo hiện trạng là do các bên đương sự chỉ ranh, phần diện tích do các bên chỉ ranh cũng không đúng với diện tích theo giấy chứng nhận đã cấp cho các bên.
Như vậy, việc đo đạc và chồng ghép bản đồ địa chính của cơ quan quản lý đất đai tại địa phương chưa xác định được nguyên nhân được sự sai lệch về diện tích khi chồng ghép bản đồ. Tòa án cấp sơ thẩm cũng chưa thu thập tài liệu, chứng cứ để làm rõ nguyên nhân chồng lấn giữa thửa đất số 68 của bà H1 và thửa đất số 8 của ông C và bà V1 nhưng tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H1, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DH459873 đứng tên ông Nguyễn Văn C và bà Ngô Thị Thu V1 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 14/9/2022 là chưa đủ căn cứ theo quy định của pháp luật.
Do Tòa án cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ chưa đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể bổ sung ngay được. Nên Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy Bản án hành chính sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án sơ thẩm để giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Xét ý kiến của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Văn C đề nghị hủy bản án sơ thẩm là có căn cứ nên được chấp nhận.
Quan điểm của Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hủy bản án sơ thẩm là có căn cứ, phù hợp với nhận định trên.
[6] Về án phí hành chính:
– Do hủy án sơ thẩm nên các đương sự không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm. Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn C số tiền nộp tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm theo quy định tại khoản 3 Điều 34 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
– Về án phí hành chính sơ thẩm được xem xét giải quyết khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[Nguồn: Bản án số 84/2025/HC-PT ngày 26//2025 của TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]
Xem file đính kèm toàn văn Bản án số: 84/2025/HC-PT
………………….
Luật sư tại Đà Nẵng:
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Star Tower, số 68 Dương Đình Nghệ, phường Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn