
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục kháng cáo:
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10 tháng 10 năm 2024, bị đơn ông Võ Văn T làm Đơn kháng cáo. Xét Đơn kháng cáo của ông Võ Văn T thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục quy định tại các Điều 70, Điều 271, Điều 272, Điều 273, Điều 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét, xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông T tháo dỡ mái tole tại tường nhà sau của ông T xây lấn qua đất ông khoảng 0,2m dài 11m và mái tole tại hàng rào phía Nam nhà ông T lấn đất ông khoảng 0,2m dài 4,2m theo biên bản thẩm định xem xét tại chỗ ngày 28/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang. Phía bị đơn có đơn phản tố yêu cầu ông Võ Văn C di dời hàng rào đã xây dựng về đúng ranh để trả lại diện tích lấn chiếm 40,6m ở thửa 584 và diện tích 10,7m ở thửa 1980 của ông theo sơ đồ bản vẽ ngày 17/6/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Gò Công Đ1 và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 03817 của Ủy ban nhân dân huyện G cấp cho hộ ông T ngày 05/8/2014. Xét thấy, vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp về ranh đất, đòi quyền sử dụng đất lấn chiếm, yêu cầu tháo dỡ vật kiến trúc trên đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ tranh chấp và giải quyết đúng thẩm quyền được pháp luật quy định tại khoản 9, 14 Điều 26; Điều 34; Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính.
[3] Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa phúc thẩm:
Tại phiên tòa bị đơn ông Võ Văn T có mặt; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Võ Ngọc Kim N có mặt. Nguyên đơn ông Võ Văn C vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan còn lại vắng mặt. Căn cứ khoản 2, 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vụ án.
[4] Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo, Hội đồng xét xử nhận định:
[4.1] Tòa án cấp sơ thẩm có nhận định tại mục [2.1.1] Theo ông T trình bày năm 1994 mẹ là cụ Lê Thị T3 có cho ông phần đất, đến ngày 21/5/1997 ông được Ủy ban nhân dân huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số thửa 584, tờ bản đồ số 5, diện tích 360m2 giáp với thửa 585 của ông Võ Văn C. Năm 2005 gia đình ông mới về cất nhà tạm ở trên đất này. Đến năm 2009 thì cất kiên cố như hiện nay (bút lục 108). Tại biên bản hòa giải ở xã T ngày 23/9/2020, ông T xác nhận khi làm nhà sau ông xây tường nằm trên đất của ông (bút lục 06). Đến năm 2010 ông C xây tường rào kiên cố. Đến năm 2013 mới có đoàn đo đạc xuống đo để lập bản đồ chính quy theo dự án V (bút lục 28). Theo sổ địa chính điện tử thể hiện thửa 584 của ông T có thửa mới là 255, tờ bản đồ 21, diện tích 320,7m2 (bút lục 82). Theo sổ cấp giấy chứng nhận thì ông T đã ký nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới vào ngày 28/10/2014 (bút lục 512). Từ các chi tiết trên thể hiện ranh đất giữa hai bên ông C, ông T là rõ ràng, Quá trình ông T, ông C xây dựng nhà và tường rào kiên cố là đúng ranh nên không hề có phát sinh tranh chấp trong thời gian dài từ năm 2005 cho đến khi bị kiện vào tháng 9/2020. Từ đó Tòa án cấp sơ thẩm quyết định: Theo kết quả xem xét thực tế tại chỗ ngày 28/8/2024 thì tại thửa 255 giáp thửa 585 có phần mái che tường nhà sau của ông T lấn qua không gian đất ông C 02 tấc, dài 11m; phần mái che vách tường rào ở hướng Nam đất ông T lấn qua không gian đất ông C 02 tấc, dài 4,2m (bút lục 690). Do đó yêu cầu của ông C yêu cầu ông T tháo dỡ phần mái tole này là có căn cứ nên chấp nhận.
Hội đồng xét xử xét thấy, bút lục số 690, cũng đồng thời được cấp sơ thẩm đóng dấu bút lục số 804 có kẻ sơ đồ minh họa mà không phải xác định tọa độ, vị trí, kích thước theo lược đồ giải thửa của cơ quan chuyên môn mà là hình ảnh do cán bộ Tòa án kẻ bằng tay. Trong đó có số liệu chiều dài 11m, không có số liệu thể hiện chiều ngang của phần mái tôn dài bao nhiêu nên sẽ khó khăn trong việc thi hành án nếu căn cứ vào kết quả xem xét thực tế tại chỗ ngày 28/8/2024.
[4.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Võ Văn T cung cấp Vi bằng số: 10/2025/VB-TPL ngày 23/4/2025 của Văn phòng T4, thì thấy: Phần vách tường nhà sau của ông T bị buộc tháo dỡ là vách tường xây kiên cố; từ vách tường đến mái tôn fibro là 10cm. Nếu phải tháo dỡ hoặc cắt đi 2 tấc (20cm) như cấp sơ thẩm tuyên buộc thì tường nhà ông T sẽ bị trống mất một khoảng 10cm. Điều này ảnh hưởng đến kết cấu nhà của ông T và không khả thi trong thực tế.
[4.3] Trong hồ sơ còn thể hiện Trích đo bản đồ địa chính khu đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G lập ngày 17/6/2022 thì phần vách tường phía sau nhà ông T có ghi nhận số đo chiều ngang 0,40, chiều 13,06 (không thể hiện đơn vị số đo) cũng không đúng với kích thước của “kết quả xem xét thực tế tại chỗ ngày 28/8/2024” của Tòa án cấp sơ thẩm nên cũng không thể thi hành án được.
[4.4] Tóm lại, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc bị đơn ông Võ Văn T phải tháo dỡ mái tôn (hoặc cắt bỏ) phần không gian lấn qua đất ông C ngang 2 tấc, dài 11m là ảnh hưởng đến kết cấu nhà ông T, không xác định được vị trí, kích thước rõ ràng cũng như không thể thi hành án được.
[4.5] Tòa án cấp sơ thẩm nhận định tại mục [2.2.2] như sau: Cả hai phần đất thửa 1980 của ông T và 585 của ông C đều có tăng (ông C tăng 63,7m2; ông T tăng 2,8m2). Trong đó tỷ lệ tăng của ông C là nhiều hơn so với ông T và diện tích tăng của ông T nằm trong sai số cho phép, do đó yêu cầu của ông T đòi ông C trả lại diện tích tranh chấp 10,7m2 ở thửa 1980 là có căn cứ nên chấp nhận. Tuy nhiên, quá trình ông C xây dựng hàng rào kiên cố trên đất phía ông T biết nhưng không hề có sự tranh chấp cho đến khi ông C khởi kiện nên cần được giữ nguyên trạng để đảm bảo sự ổn định và tránh lãng phí khi phải đập bỏ, di dời. Do đó phần diện tích thiếu này cần giao cho ông C tiếp tục sử dụng và phải hoàn lại giá trị bằng tiền theo kết quả định giá cho ông T cụ thể là theo biên bản định giá ngày 06/01/2022. Từ đó chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông T buộc ông C trả lại giá trị phần đất lấn chiếm là 16.585.000 đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy: Theo Vi bằng số: 10/2025/VB-TPL ngày 23/4/2025 của Văn phòng Thừa phát lại Gò Công thì phần hàng rào ông C xây bằng gạch, phần chân hàng rào được làm bằng khối bê tông cao 0,4m, đã bám rong rêu; có các hàng cột bê tông; được rào bằng lưới B40 đã cũ, rỉ sét nên việc di dời hàng rào về đúng vị trí ranh giới hai bên đương sự là thực hiện được. Cấp sơ thẩm buộc ông C phải trả giá trị là ảnh hưởng quyền lợi của các đương sự, chưa đảm bảo tính công bằng. Bởi vì, vách nhà phía sau của hộ ông T bằng mái tôn fibro thì buộc cắt bỏ hoặc tháo dỡ; còn hàng rào nhà ông C có khả năng di dời thì ổn định phần lấn ranh này.
[5] Từ những nhận định trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm quyết định tháo dỡ mái tôn nhà ông T và ổn định phần ranh hàng rào cho ông C là chưa xác định đúng bản chất sự việc ảnh hưởng đến quyền lợi các đương sự; Biên bản lập không rõ ràng vị trí, số đo và không thể thi hành án được. Cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên cần phải hủy bản án sơ thẩm để giao hồ sơ vụ án về cấp sơ thẩm xem xét thẩm định lại cụ thể để có quyết định chính xác và khả thi. Hội đồng xét xử xét thấy bị đơn ông Võ Văn T kháng cáo là có căn cứ nên chấp nhận kháng cáo, hủy bản án của Tòa án cấp sơ thẩm. Khi xét xử lại cần chú ý xác định đơn vị số đo theo quy định phổ thông là mét, dm, cm; tránh sử dụng từ từ địa phương là “tấc” để dễ hiểu và thi hành án.
[NGUỒN: BẢN ÁN SỐ 405/2025/DS-PT NGÀY 29/4/2025 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]
LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 405/2025/DS-PT
……………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn