
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về tố tụng:
[1]. Đơn kháng cáo ngày 23/8/2024, ông Tạ Minh H1, ông Tạ Minh Q, ông Tạ Quốc C, bà Tạ Bích L, bà Tạ Ngọc P1 và Quyết định kháng nghị số: 154/QĐ-VKS-DS ngày 27/8/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là trong hạn luật định và hợp lệ nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
* Về nội dung:
[2]. Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời thừa nhận của người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định:
Cụ Tạ Minh H6 và cụ Nguyễn Thị H7 là vợ chồng kết hôn năm 1959 (Bút lục 388).
Cụ H6 và cụ H7 có 07 người con gồm: ông Tạ Cẩm P4, ông Tạ Minh H, bà Nguyễn Ngọc A1, bà Tạ Kim M, bà Tạ Thị T3, bà Tạ Kim T6, bà Tạ Thị H2.
Quá trình chung sống cụ H6 và cụ H7 đã tạo lập được tài sản là diện tích đất 1.720m², số địa bộ cũ: 167; số địa bộ mới: 173 và 01 căn nhà trên đất. Tọa lạc tại Khóm I, Phường 1, thị xã S, tỉnh Đồng Tháp (nay là diện tích 2.330m². Trong đó: thừa 53, tờ bản đồ 01 diện tích 108m² đất thổ cư; thửa 54 tờ bản đồ 01 diện tích 2.222m² đất Lúa. Tọa lạc tại: khóm C, Phường I, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp). Cụ H6 và cụ H7 chưa được cấp giấy chứng nhận nhà, đất (Bút lục 49).
Ngày 14/01/1966, cụ H6 và cụ H7 lập Di chúc là “Tờ di ngôn tiểu ngạch” để lại thừa kế cho các con: ông Tạ Cẩm P4, ông Tạ Minh H, bà Nguyễn Ngọc A1, bà Tạ Kim M, bà Tạ Thị T3, bà Tạ Kim T6, bà Tạ Thị H2. “Tờ di ngôn tiểu ngạch” có công chứng.
Ngày 19/11/1980, cụ H6 chết; Ngày 01/11/1990, cụ H7 chết, không để lại di chúc nào khác.
Ngày 06/12/1990, các con của cụ H6 và cụ H7, gồm: ông Tạ Cẩm P4, ông Tạ Minh H, bà Nguyễn Thị Ngọc A1, bà Tạ Thị Kim M, bà Tạ Thị T3 (bà Tạ Kim T6 chết trước năm 1975), bà Tạ Thị H2 đã cùng nhau lập “Tờ Di chúc” có nội dung, như sau:
“Chúng tôi tên là Tạ Minh H6, có đứng bộ 01 thửa đất vườn 1.720m², số địa bộ cũ: 167; số địa bộ mới: 173 và 01 căn nhà trên đất. Tọa lạc tại số A, khóm I, Phường 1, thị xã S, tỉnh Đồng Tháp”.
“Nay chúng tôi đồng ký tên dưới đây, quyết định phần đất này thuộc vào của hương hỏa tạ gia trang và quy định các điều sau đây:
1/- Con cháu chúng tôi, trai cũng như gái. Nếu gặp trường hợp khó khăn điều được trở về định cư trên phần đất hương hỏa, nhưng phải có sự chấp thuận của hội đồng bồn tộc:
2/- Giao cho một người quản lý Nhà thờ, săn sóc trồng trọt hoa lợi trên mảnh đất để thờ phụng, cúng kiến ông, bà và bản trì mồ mã.
3/- Người quản lý, không được quyền sang nhượng, bán và cho ai dưới bất cứ hình thức nào.
4/- Hợp định kỳ của hội bổn tộc là 2 năm 1 lần, để duyệt xét lại thành phần quản lý.
Tờ di chúc này đánh thành 6 bồn, cho 6 người con làm căn bản pháp lý và truyền mãi cho đến đời sau cho con cháu phải tuân theo, không được quyền thay và tranh chấp sửa”. “Tờ Di chúc” nêu trên có chứng thực của UBND xã (Bút lục 49).
Năm 1993, ông Tạ Minh H tiến hành kê khai để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt: Giấy chứng nhận QSDĐ). Ngày 04/8/1993, UBND thị xã S cấp Giấy chứng nhận QSDĐ số: B202088 với diện tích 2.330m² (trong đó: thửa 53, tờ bản đồ 01 diện tích 108m² đất thổ cư; thửa 54 tờ bản đồ 01 diện tích 2.222m² đất Lúa) cho ông Tạ Minh H (Bút lục 103).
Căn cứ Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự các tình tiết, sự kiện nêu trên là sự thật nên các đương sự không phải chứng minh.
[3]. Như vậy, diện tích 2.330m² và căn nhà trên đất nêu trên là di sản thừa kế của cụ H6 và cụ H7 đã lập di chúc cho 07 người con của 02 cụ được hưởng thừa kế, nhưng các con chưa chia. Sau khi 02 cụ qua đời, các con của 02 cụ là hàng thừa kế thứ nhất đã lập “Tờ Di chúc” thỏa thuận không chia thừa kế mà để lại làm di sản thờ cúng, không ai được quyền định đoạt. Thỏa thuận này là phù hợp với quy định tại quy định tại Điều 670 của Bộ luật dân sự năm 2005. Do đó, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số: 84, quyển số 01 TD/CC-SCC/HĐGD ngày 10/4/2009 do một mình ông Tạ Minh H ký chuyển nhượng cho ông Trần Văn T và ông Đỗ Văn H5 diện tích đất 1.377,7m² và căn nhà trên đất (thuộc một phần của diện tích 2.330m²) là vi phạm điều cấm nên bị vô hiệu theo Điều 128 của Bộ luật dân sự năm 2005.
[4]. Xét Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số: 84 nêu trên, thể hiện ông T và ông H5 cùng nhận chuyển nhượng của ông H diện tích đất 1.377,7m². Giá ghi trong Hợp đồng chuyển nhượng là 150.000.000đ, giá thực tế chuyển nhượng là 1.200.000.000đ. Nhưng không xác định ông T và ông H5 mỗi người nhận chuyển nhượng bao nhiêu diện tích, góp bao nhiêu tiền. Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn: anh Tạ Minh H1, anh Tạ Minh P3, anh Tạ Minh T1, anh Tạ Minh Q, anh Tạ Quốc C, chị Tạ Bích L, chị Tạ Cẩm V và chị Tạ Ngọc P1 có yêu cầu phản tố đề nghị hủy toàn bộ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số: 84 nêu trên, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ tuyên hủy và giải quyết hậu quả một phần của Hợp đồng chuyển nhượng đối với diện tích 1.000.m2 hiện nay ông T đang đứng tên trên Giấy chứng nhận QSDĐ. Đối với diện tích 377,7 m² còn lại Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng “ông H1 và chị L không cung cấp được địa chỉ của ông H5” nên tách ra để giải quyết sau là không có căn cứ. Bởi lẽ, trong Đơn yêu cầu phản tố (Bút lục 129 đến 140) đương sự đã ghi cụ thể địa chỉ của ông Đỗ Văn H5 là: 500A, B, Phường B, quận B, TP H, là đúng với địa chỉ của ông H5 được ghi trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số: 84 (Bút lục 03). Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 192 của bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 06/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (mục 9 phần IV Công văn số 02/TANDTC-PC ngày 02/8/2021 của Tòa án nhân dân tối cao) thì việc ông H5 có thay đổi địa chỉ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết yêu cầu phản tố nêu trên. Ngoài yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số: 84 nêu trên, trong Đơn phản tố (Bút (Bút lục 129 đến 140 và bút lục 789) bên bị đơn còn yêu cầu hủy: Giấy chứng nhận QSDĐ số vào số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01611, do UBND thị xã S cấp ngày 07/5/2009 cho ông Đỗ Văn H5 và ông Trần Văn T; Giấy chứng nhận QSDĐ số H01684, do UBND thị xã S cấp ngày 08/7/2009 cho ông Trần Văn T; Giấy chứng nhận QSDĐ số vào số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01683, do UBND thị xã S cấp ngày 08/7/2009 cho ông Đỗ Văn H5; Giấy chứng nhận QSDĐ số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00772, do UBND thị xã S cấp ngày 09/5/2011 cho anh Lê Xuân T5; Giấy chứng nhận QSDĐ cấp ông Phạm Phúc N. Đây là yêu cầu hủy quyết định hành chính cá biệt, đã được Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý (Bút lục 798) nhưng Tòa án cấp sơ thẩm mới chỉ xem xét tính hợp pháp của Giấy chứng nhận QSDĐ số H01684, do UBND thị xã S cấp ngày 08/7/2009 cho ông Trần Văn T. Còn các Giấy chứng nhận QSDĐ khác chưa xem xét và không đưa UBND thành phố S vào tham gia tố tụng.
[5]. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của ông T hủy một phần Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số: 84, đối với diện tích đất 1.000m² và giải quyết bồi thường đối với phần bị vô hiệu, buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Tạ Minh H là: anh Tạ Minh H1, anh Tạ Minh P3, anh Tạ Minh T1, anh Tạ Minh Q, anh Tạ Quốc C, chị Tạ Bích L, chị Tạ Cẩm V và chị Tạ Ngọc P1 phải trả lại cho ông Trần Văn T số tiền chuyển nhượng đất 900.000.000 đồng và phải bồi thường chênh lệch là 2.470.820.000 đồng, tổng cộng 3.370.820.000 đồng; anh Tạ Minh H1, anh Tạ Minh P3, anh Tạ Minh T1, anh Tạ Minh Q, anh Tạ Quốc C, chị Tạ Bích L, chị Tạ Cẩm V và chị Tạ Ngọc P1 được quyền sửdụng và liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận QSDĐ diện tích đất nêu trên là không có căn cứ. Bởi lẽ, ông Tạ Minh H là người có lỗi dẫn đến Hợp đồng chuyển nhượng bị vô hiệu nên ông H là người có nghĩa vụ hoàn trả lại số tiền đã nhận và bồi thường thiệt hại do giao dịch bị vô hiệu. Tuy nhiên, ngày 29/9/2011 ông H đã chết (Bút lục 47), không để lại di chúc nào khác với “Tờ Di Chúc” ngày 06/12/1990 (lập chung với ông P4, bà Ngọc A1, bà Kim M, bà T3, bà H2 có nội dung để lại di sản thờ cúng). Tại phiên Tòa sơ thẩm người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H chỉ tự nguyện hoàn trả thay cho ông H số tiền gốc ông H đã nhận là 1.200.000.000 đồng, nhưng Tòa sơ thẩm không thu thập tài liệu, chứng cứ để làm rõ ông H chết có để lại di sản thừa kế nào không, nhưng vẫn tuyên buộc người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng – hàng thừa kế thứ nhất của ông H phải bồi thường thiệt hại cho ông T số tiền 2.470.820.000 đồng do Hợp đồng chuyển nhượng bị vô hiệu là không phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 615 của Bộ luật dân sự năm 2015. Khoản 1 Điều 615 của Bộ luật dân sự năm 2015, quy định “Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.
[6]. Hiện nay, hàng thừa kế thứ nhất (của cụ H6 và cụ H7) còn bà Ngọc A1, bà M, bà T3, bà H2 đang định cư ở Hoa Kỳ, còn ông P4, ông H đã chết. Trong trường hợp này, Tòa án cần giao cho chị Nguyễn Ngọc Kim L1 là cháu nội của ông Tạ Minh H là người đang quản lý di sản thờ cúng trên tiếp tục quản lý cho đến khi bà Ngọc A1, bà M, bà T3, bà H2 cử được người quản lý di sản sản thờ cúng theo quy định tại Điều 616 của Bộ luật dân sự năm 2015. Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm tuyên giao cho người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Tạ Minh H, gồm: anh H1, anh P3, anh T1, anh Q, anh C, chị L1, chị V và chị P1 (con của ông H) được quyền sử dụng diện tích 1.000m² (đo đạc thực tế 1.022,5m²) ông H chuyển nhượng cho ông T là không đúng với quy định tại Điều 616 của Bộ luật dân sự năm 2015.
[7]. Như đã phân tích trên, việc Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết chưa hết các yêu cầu của đương sự, không xem xét hết tính hợp pháp của các quyết định hành chính cá biệt, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, giải quyết không đúng đường lối pháp luật quy định mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục. Do đó, chấp nhận một phần kháng cáo của ông Tạ Minh H1, ông Tạ Minh Q, ông Tạ Quốc C, bà Tạ Bích L, bà Tạ Ngọc P1 và chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại cho đúng quy định của pháp luật.
[8]. Quan điểm của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm là không có căn cứ chấp nhận.
[9]. Quan điểm của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh H1 đề nghị hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại là có căn cứ chấp nhận.
[10]. Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ để cấp sơ thẩm giải quyết lại là có căn cứ chấp nhận.
[11]. Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng sơ thẩm: Tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm và tạm ứng chi phí tố tụng sơ thẩm sẽ được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, giải quyết khi vụ án được thụ lý lại.
[12]. Án phí dân sự phúc thẩm: ông Tạ Minh H1, ông Tạ Minh Q, ông Tạ Quốc C, bà Tạ Bích L, bà Tạ Ngọc P1 không phải chịu.
[Nguồn: Bản án số 462/2025/DS-PT ngày 14/5/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]
Xem file đính kèm toàn văn Bản án số: 462/2025/DS-PT
………………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn