
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 12 tháng 9 năm 2024, chị Phạm Thị H có đơn khởi kiện gửi tới Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Hồ Văn N. Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo thì anh N có nơi cư trú tại xóm E, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; còn chị H trước khi xuất cảnh có địa chỉ cư trú tại thôn P, xã L, huyện B, tỉnh Quảng Bình nhưng đã đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan từ năm 2013 cho đến nay nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Quá trình giải quyết vụ án, chị Phạm Thị H không thể tham gia hòa giải được do đang ở nước ngoài, xin vắng mặt tất cả các buổi làm việc nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Đồng thời, do trong vụ án ly hôn này, Tòa án không tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị H:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: cuộc hôn nhân giữa chị Phạm Thị H và anh Hồ Văn N được xác lập trên cơ sở do hai người tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng đã có thời gian chung sống hoà thuận và đã có một người con chung nhưng hạnh phúc gia đình không xây dựng được lâu dài do hai anh chị có nhiều bất đồng, mâu thuẫn trong cuộc sống, sau khi chị H đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan thì do khoảng cách địa lý xa xôi nên tình trạng vợ chồng càng trở nên trầm trọng, vợ chồng không quan tâm lẫn nhau cả về đời sống vật chất và tinh thần. Tại các bản tự khai, chị H và anh N đều thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên thống nhất giải quyết ly hôn. Hội đồng xét thấy, thời gian vợ chồng chung sống với nhau là chưa dài nhưng đã phát sinh mâu thuẫn một thời gian mà cả hai bên đương sự đều không có giải pháp gì đề đoàn tụ, đều yêu cầu giải quyết ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị H yêu cầu giải quyết ly hôn và anh N đồng ý ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51, 53, 55 Luật Hôn nhân – Gia đình nên ghi nhận sự thuận tình ly hôn này của hai anh chị.
[2.2] Về quan hệ con chung: Tại các bản tự khai, chị H và anh N đều trình bày vợ chồng có một con chung là: cháu Hồ Quốc V, sinh ngày 01/8/2009. Nay ly hôn, chị H và anh N đều có nguyện vọng được nuôi con chung. Xét thấy, yêu cầu được nuôi con của các đương sự là hoàn toàn chính đáng. Tuy nhiên, từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay, cháu V đã sinh sống cùng với chị H và bà Q (bà ngoại của cháu), được chăm sóc, phát triển hoàn toàn bình thường. Bản thân cháu V cũng có nguyện vọng được ở với mẹ nhưng do mẹ đang đi lao động tại nước ngoài nên đề nghị Tòa án cho cháu được tạm thời ở với bà ngoại là bà Phan Thị Q để không làm ảnh hưởng đến học hành, sinh hoạt của cháu từ trước đến nay. Tại Bản tự khai và Biên bản lấy lời khai, anh N cũng thống nhất thoả thuận là trường hợp Tòa án giao cháu V cho chị H chăm sóc nuôi dưỡng để đảm bảo ổn định cuộc sống, học tập của cháu thì anh cũng đồng ý và đồng ý cấp dưỡng cho cháu V 1.000.000 đồng/tháng để cho cháu học tập. Tuy nhiên, do chị H đang ở nước ngoài nên bà Phan Thị Q (mẹ đẻ của chị H) nhận trách nhiệm trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hồ Quốc V chu đáo cho đến khi chị H về Việt Nam với cháu V; bà Q cũng không yêu cầu chị H và anh N phải thanh toán tiền nuôi dưỡng cháu V trong thời gian bà nuôi dưỡng cháu. Xét thấy sự thỏa thuận của các đương sự về việc giao cháu V cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con cũng như nguyện vọng của cháu V; mức cấp dưỡng mà anh N đưa ra cũng phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của các bên, mức sinh hoạt trung bình tại địa phương và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83, 84, 104 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên Tòa án ghi nhận sự thoả thuận này.
Anh Như K trực tiếp nuôi con sau ly hôn nên có quyền đi lại thăm nom con chung; không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Tại các bản tự khai, chị H, anh N đều không yêu cầu Toà án giải quyết về phần tài sản nên miễn xét.
[3]. Về án phí: Chị Phạm Thị H tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm; anh Hồ Văn N phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
[NGUỒN: Bản án số 489/2024/HNGĐ-ST NGÀY 29/11/2024 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN]
LINK PDF: Bản án số 489/2024/HNGĐ-ST
………………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn