Feel free to go with the truth

Trang chủ / Nghiên cứu học tập / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Bản án về tranh chấp xác định di sản, chia thừa kế

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Bản án về tranh chấp xác định di sản, chia thừa kế

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị trong hạn luật định nên được đưa ra xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[1.2] sự có mặt của đương sự:

Nguyên đơn bà Hồ Thiên T2, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: bà Hồ Thị H có mặt, ông Hồ Xuân T1( vắng mặt), bị đơn bà Trần Anh T( vắng mặt) có người đại diện theo ủy quyền tham gia, cụ thể ( bà Tủy quyền cho ông Chu Đức N3, ông T1, bà T2, bà Hủy quyền cho bà N). Bà Ngô Thị H1có đơn xin vắng mặt, các đương sự khác được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt nên tòa án tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[1.3] Về nội dung yêu cầu khởi kiện, quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết.

Từ nội dung đơn kiện của nguyên đơn, diễn biến quá trình khởi kiện, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm xác định:

Đơn khởi kiện đề ngày 21/8/2017 có tiêu đề “Đơn khởi kiện về việc tranh chấp đất đai” nộp tại Toà án nhân dân huyện Hóc Môn, nguyên đơn bà Hồ Thiên N “kính nhờ Toà án giải quyết yêu cầu bà Trần Anh T trả lại nhà đất số C ấp T, xã T, huyện H” cho bà N và các em bà N”.

Đơn khởi kiện đề ngày 16/10/2017, nguyên đơn bà Hồ Thiên N yêu cầu Toà án giải quyết những vấn đề sau đây: (1) xác định nhà đất số C ấp T, xã T, huyện H là di sản của mẹ bà là Hoàng Thị V1để lại; (2) Phân chia di sản của  mẹ bà để lại là nhà đất số C ấp T, xã T, huyện H(hiện nay giá trị khoảng 400.000.000 đồng) cho 5 người thừa kế là bà Hồ Thiên N, ông Hồ Thiên T7, bà Hồ Thiên T2, bà Hồ Thị H, ông Hồ Hoàng Đ(mất), mỗi người 80.000.000 đồng.

Toà án nhân dân huyện Hóc Môn đã thụ lý giải quyết các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo Đơn khởi kiện ngày 16/10/2017 theo Thông báo thụ lý giải quyết vụ án số 565/TB-TLVA ngày 16/10/2017. Nguyên đơn đã nhận được Thông báo thu lý vụ án này và không có ý kiến về nội dung các yêu cầu khởi kiện của mình đã được Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn chấp nhận thụ lý giải quyết vụ án.

Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn tại các bản tự khai, biên bản hoà giải tại cấp sơ thẩm đã trình bày nhiều ý kiến khác nhau như:

-Bản tự khai ngày 14/12/2017 yêu cầu: Huỷ sổ hồng (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất); Xác định rõ đây là nhà của bà Hoàng Thị V1mua là tài sản chung của chị em bà; Yêu cầu bà Trần Anh T trả lại nhà cho chị em bà, chị em bà sẽ thanh toán lại phần thừa kế của Hồ Hoàng Đ sau khi thanh lý xong ngôi nhà này theo giá thị trường hiện nay (giá bán được của căn nhà này).

-Bản tự khai ngày 12/3/2018: Yêu cầu bà Trần Anh T trả lại nhà cho chị em bà. Sau khi Toà xác định rõ đây là di sản thừa kế của cha mẹ bà để lại, huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số CS02746 cấp ngày 18/4/2017 cho bà T, chị em bà sẽ tự thanh lý theo giá thị trường hiện nay (giá bán được), bà T đại diện cho Hồ Thị Thanh T4và Hồ Hoàng Phúc T6sẽ nhận được 1/5 số tiền thừa kế phần Hồ Hoàng Đ.

-Bản tự khai ngày 17/7/2018 đề nghị Toà án công nhận di sản nhà đất số C ấp T, xã T, huyện H là di sản của mẹ bà là Hoàng Thị V1để lại cho 5 con là bà Hồ Thiên N, ông Hồ Thiên T7, bà Hồ Thiên T2, bà Hồ Thị H, ông Hồ Hoàng Đ(đã mất) để bà đại diện các đồng thừa kế hoàn tất việc phân chia di sản theo quy định của pháp luật.

-Tại các Biên bản đối chất ngày 08/11/2019, Biên bản làm việc ngày 10/3/2021, Biên bản không tiến hành hoà giải được ngày 26/4/2022 nguyên đơn yêu cầu huỷ 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất (gồm giấy chứng nhận số CH01410 do UBND huyện H cấp cho ông Đ bà T ngày 04/10/2011 và giấy chứng nhận số CS02746 do Sở tài nguyên và môi trường Thành phố H cấp cho bà T ngày 18/4/2017) và chia thừa kế đối với căn nhà C ấp T, xã T, huyện H cho 5 người con của bà Hoàng Thị V1theo quy định của pháp luật.

-Tại các Biên bản về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 20/9/2022, Biên bản hoà giải ngày 20/9/2022 và tại phiên toà ngày 08/11/2022, nguyên đơn xác định yêu cầu khởi kiện gồm: (1) Công nhận nhà đất số C ấp T, Thới Tam T5, H, Thành phố Hồ Chí Minh là di sản thừa kế của bà Hoàng Thị V1để lại; (2) Chia thừa kế đối với nhà đất tại địa chỉ C ấp T, T, H, Thành phố Hồ Chí Minh cho 05 người con là Hồ Thiên N, Hồ Xuân T1, Hồ Thiên T2, Hồ Thị H, Hồ Hoàng Đ theo quy định của pháp luật; (3) Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 616214, số vào sổ cấp GCN: CH 01410 ngày 04/10/2011 do UBND huyện H cấp cho ông Đ,  bà T;(4) Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 706289, số vào số cấp GCN: CS 02746 do Sở T9cấp cho bà T vào ngày 18/04/2017.

Từ đó Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì “Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.”

Từ đó xác định:  quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án, cụ thể: nguyên đơn khởi kiện “Tranh chấp xác định di sản, chia thừa kế và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” với bị đơn tại Toà án, đây là vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp về “Tranh chấp về thừa kế” được quy định tại căn cứ vào khoản 5 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và “yêu cầu huỷ quyết định cá biệt trái pháp luật” được quy định tại Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Căn cứ vào khoản 4 Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền của cấp Tòa án giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp có xem xét việc hủy quyết định cá biệt được xác định theo quy định tương ứng của Luật tố tụng hành chính, do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

[1.4] Về xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự:

Theo Đơn khởi kiện ngày 16/10/2017, nguyên đơn xác định bà Đỗ Thị Đ1là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan do mẹ của nguyên đơn là bà Hoàng Thị V1mua căn nhà C ấp T, Thới Tam T5, H từ bà Đỗ Thị Đ1, nguyên đơn cung cấp tài liệu Hợp đồng mua bán nhà viết tay (cuối hợp đồng đề ngày 18/9/2006). Tài liệu này không là căn cứ xác lập quyền sở hữu sử dụng nhà đất đang tranh chấp thuộc về bà Hoàng Thị V1. Trong khi đó, tài sản là nhà đất đang tranh chấp đã được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 616214, số vào sổ cấp GCN: CH 01410 ngày 04/10/2011 cho ông Đ, bà T và sau đó là Sở T9cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 706289, số vào số cấp GCN: CS 02746 ngày 18/04/2017 cho bà T. Theo tài liệu do Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Chi nhánh huyện H3cung cấp thì trong hồ sơ xét cấp giấy chứng nhận có tài liệu Giấy bán nhà ngày 08/10/2001 do bà Đỗ Thị Đ1ký bán cho ông Hồ Hoàng Đ cũng như tài liệu Đơn tường trình và cam kết ngày 09/7/2011 của bà Đ1về việc bán nhà cho ông Đ.  Do  nguyên đơn không có yêu cầu xác định quyền sở hữu sử dụng đối với tài sản là nhà đất tại C ấp T, Thới Tam T5, H thuộc về bà Hoàng Thị V1do bà V1đã mua nhà đất của bà Đ1mà chỉ yêu cầu xác định di sản và chia thừa kế đối với tài sản do bà Hoàng Thị V1chết để lại nên trong mối quan hệ pháp luật đang tranh chấp “yêu cầu xác định di sản và chia thừa kế” này. Việc giải quyết vụ án dân sự này không liên quan đến quyền và lợi ích của bà Đỗ Thị Đ1, do đó căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, không cần thiết xác định bà Đỗ Thị Đ1làngười có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo như Đơn khởi kiện của nguyên đơn. Bà Đỗ Thị Đ1chết ngày 28/01/2022, bà Đ1không có quyền và lợi ích hợp pháp gì trong mối quan hệ pháp luật tranh chấp di sản và chia thừa kế giữa nguyên đơn và bị đơn nên không có quyền và nghĩa vụ về tài sản của bà Đ1được thừa kế nên căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 74 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định không phát sinh người kế thừa quyền và nghĩa vụ của đương sự.

Do đó cấp sơ thẩm tiếp tục giải quyết vụ án, không hoãn phiên toà theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh để đưa những người thừa kế của bà Đ1tham gia tố tụng với tư cách kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Đỗ Thị Đ1là phù hợp.

[1.5] Về việc triệu tập và lấy lời khai của người làm chứng ngoài trụ sở Toà án theo Đơn đề nghị ngày 21/9/2022 (nộp ngày 03/10/2002) của nguyên đơn cũng như đề nghị hoãn phiên toà để triệu tập và lấy lời khai của người làm chứng của Luật sư Trần Vĩ C1tại phiên toà ngày 08/11/2022 đối với những người làm chứng là bà Đỗ Thị M,  ông Đỗ Văn L,  bà Đỗ Thị C và  bà Nguyễn Thị M1.

Cấp sơ thẩm căn cứ tài liệu chứng cứ là Hợp đồng mua bán nhà viết tay (cuối hợp đồng đề ngày 18/9/2006) giữa người bán là bà Đỗ Thị Đ1và người mua là bà Hoàng Thị V1, có chữ ký của bà Đỗ Thị M, ông Đỗ Văn L, bà Đỗ Thị C, Toà án đã triệu tập những người này đến Toà để lấy lời khai cũng như tham dự phiên toà để cung cấp lời khai người làm chứng theo đúng thủ tục tống đạt niêm yết theo quy định, tuy nhiên những người này không đến Toà theo triệu tập của Toà án. Xác định nguyên đơn không có tranh chấp về việc xác định quyền sở hữu sử dụng tài sản của bà Hoàng Thị V1liên quan đến việc mua bán  nhà giữa bà Hoàng Thị V1và bà Đỗ Thị Đ1mà chỉ tranh chấp về việc xác định di sản và chia thừa kế nên không cần thiết phải lấy lời khai người làm chứng ngoài trụ sở Toà án và hoãn phiên toà theo đề nghị của nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.

Đối với đề nghị triệu tập và lấy lời khai của người làm chứng là bà Nguyễn Thị M1của nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, căn cứ tài liệu chứng cứ là Hợp đồng mua bán nhà viết tay (cuối hợp đồng đề ngày 18/9/2006) chỉ chữ ký ghi “mười” thì không còn nội dung nào khác thể hiện đầy đủ nhân thân của người đã ký nội dung này trong tài liệu, do đó cấp sơ thẩm không triệu tập bà Nguyễn Thị M1, ngụ tại 1 ấp F, xã Đ, huyện H tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng là có căn cứ.

[2] Về nội dung giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc xác định nhà đất tại địa chỉ C ấp T, T, H là di sản do bà Hoàng Thị V1chết để lại:

Bà Hoàng Thị V1sinh ngày 08/10/1945, mất ngày 27/7/2008.

Hàng thừa kế thứ nhất: chồng là Hồ Thanh L1(sinh ngày 24/12/1936, chết ngày 19/11/2000), ông L1chết trước bà V1; Theo lời khai trình của bà Hồ Thiên N, Hồ Thiên T2, Hồ Thi H2tại phiên toà sơ thẩm thì bà V1là trẻ mồ côi, không xác định được cha mẹ; Bà V1và ông L1có tất cả 05 người con gồm: Hồ Thiên N(sinh năm 1964), Hồ Xuân T1(sinh năm 1968), Hồ Thiên T2(sinh năm 1970), Hồ Thị H(sinh năm 1972) và Hồ Hoàng Đ(sinh năm 1976, chết năm 2013).

Về tài sản được yêu cầu xác định là di sản là nhà đất tại địa chỉ C ấp T, Thới Tam T5, H:Tòa án cấp sơ thẩm:

Đối chiếu quy định tại Điều 634 Bộ luật dân sự năm 2005, Điều 612 Bộ luật dân sự năm 2015, x ác định là di sản thừa kế phải là “tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”. Điều 163, Điều 164 và Điều 167 Bộ luật dân sự năm 2005 cũng như Điều 105, Điều 106 và Điều 107 Bộ luật dân sự năm 2015 thì quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là bất động sản được đăng ký theo quy định của Bộ luật dân sự và pháp luật về đăng ký tài sản.

Khoản 1 Điều 168 Luật đất đai năm 2013 về thời điểm được thực hiện các quyền của người sử dụng đất thì “1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận.”

Điểm a, b khoản 1 Điều 188 Luật đất đai năm 2013: “1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây: a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này; b) Đất không có tranh chấp…”

Tài sản (bất động sản) là nhà đất tại địa chỉ C ấp T, T, H đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền là UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 616214, số vào sổ cấp GCN: CH 01410 ngày 04/10/2011 công nhận quyền sở hữu tài sản cho ông Hồ Hoàng Đ và bà Trần Anh T, cũng như sau đó là Sở T9cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 706289, số vào số cấp GCN: CS 02746 ngày 18/04/2017 công nhận quyền sở hữu tài sản cho bà Trần Anh T và những người thừa kế của ông Hồ Hoàng Đ.

Trong vụ kiện này cấp sơ thẩm xác định:  nguyên đơn chỉ yêu cầu xác định di sản và chia thừa kế, không có tranh chấp về việc xác định quyền sở hữu, sử dụng tài sản là nhà đất tại địa chỉ C ấp T, T, H là thuộc quyền sở hữu của bà Hoàng Thị V1đã chết.

Nguyên đơn không cung cấp được bất kỳ tài liệu pháp lý nào của cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền sở hữu tài sản là bất động sản cho bà Hoàng Thị V1nên không có căn cứ xác định đây là di sản do người chết là bà Hoàng Thị V1để lại cho các đồng thừa kế, Hội đồng xét xử sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.

Từ đó Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm xác định: tranh chấp xác định di sản thừa kế đối với tài sản là nhà đất tại địa chỉ C ấp T, T, H(địa chỉ hiện nay, được xác định từ năm 2011 theo Thông báo tạm cấp số nhà số 1415/TB-UBND ngày 21/6/2011 của UBND huyện H.

Không liên quan đến việc xác định quyền sở hữu tài sản trên cơ sở xác định nguồn gốc hình thành tài sản tranh chấp nên cấp sơ thẩm không xác minh các thông tin khác nhau về số nhà đã được các bên giao dịch mua bán bằng giấy tay, cụ thể: nhà số B Tổ A ấp T, Thới Tam T5, H theo Hợp đồng mua bán nhà viết tay (cuối hợp đồng đề ngày 18/9/2006) giữa người bán là bà Đỗ Thị Đ1và người mua là bà Hoàng Thị V1; căn nhà cấp 4 với diện tích 85m2thuộc thửa đất 110, tờ bản đồ số 22 xã T, huyện H theo tài liệu chứng cứ là Giấy bán nhà ngày 08/10/2001 do bà Đỗ Thị Đ1ký bán cho ông Hồ Hoàng Đ cũng như tài liệu Đơn tường trình và cam kết ngày 09/7/2011 của bà Đ1về việc bán nhà cho ông Đ; và căn  nhà số  B  ấp  T, Thới  Tam  T5, H được  ghi  nhận  tại  Tờ  cam  kết  ngày 18/10/2008 có chữ ký của ông Hồ Hoàng Đ và các anh chị ông Hồ Hoàng Đ; nơi cư trú của ông Hồ Hoàng Đ trước khi chuyển đến địa chỉ C ấp T, T, H được ghi nhận tháng 6/2011 tại Sổ hộ khẩu số 31140072268 là B ấp T, Thới Tam T5, H theo đề nghị xác minh làm rõ của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên toà.

[2.2] Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm xác định: do chưa đủ căn cứ xác định tài sản là nhà đất tại C ấp T, Thới Tam T5, H là di sản do người chết là bà Hoàng Thị V1để lại nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc phân chia di sản đối với tài sản này theo kỷ phần thừa kế là 1/5 giá trị tài sản. Nguyên đơn được quyền khởi kiện lại vụ án tranh chấp xác định di sản thừa kế và phân chia di sản thừa kế đối với tài sản nói trên sau khi đã được Tòa án có thẩm quyền công nhận quyền sở hữu sử dụng tài sản là nhà đất tại C ấp T, Thới Tam T5, H thuộc về bà Hoàng Thị V1khi giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất bằng một vụ án khác là đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

[2.3] Xét yêu cầu hủy quyết định cá biệt của nguyên đơn:

Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, thì “Khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết.”, xác định:

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 616214, số vào sổ cấp GCN: CH 01410 do UBND huyện H cấp ngày 04/10/2011 công nhận quyền sở hữu tài sản cho ông Hồ Hoàng Đ và bà Trần Anh T đã bị huỷ bỏ theo Quyết định số 950/QĐ-STNMT-VPĐK ngày 18/4/2017 của Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H nên Giấy chứng nhận này không còn tồn tại, nên Hội đồng xét xử  sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 616214, số vào sổ cấp GCN: CH 01410 do UBND huyện H cấp ngày 04/10/2011 của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 706289, số vào số cấp GCN: CS 02746 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 18/04/2017 công nhận quyền sở hữu tài sản cho bà Trần Anh Tvà những người thừa kế của ông Hồ Hoàng Đ.

Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm căn cứ:

Quy định tại khoản 16 Điều 3 Luật đất đai năm 2013 “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất”.

Quy định tại điểm d khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai năm 2013  “Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.”

Quy định tại khoản 3 Điều 106 của Luật Đất đai năm 2013:“Việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp đối với trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều này do cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định tại Điều 105 của Luật này quyết định sau khi đã có kết luận của cơ quan thanh tra cùng cấp, văn bản có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp đất đai.”

Quy  định  tại:  khoản  26  Điều  1  Nghị  định  148/2020/NĐ-CP   ngày 18/12/2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số43/2014/NĐ-CP15 tháng 5 năm 2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai quy định: “4. Việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai tại điểm d khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai được thực hiện như sau: a) Trường hợp Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai có bản án, quyết định có hiệu lực thi hành, trong đó có kết luận về việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp thì việc thu hồi Giấy chứng nhận được thực hiện theo bản án, quyết định đó;”

Từ đó xác định: nguyên đơn không có tranh chấp về đất đai, không có tranh chấp về quyền sử dụng đất để xác định quyền sở hữu tài sản đang tranh chấp thuộc về bà Hoàng Thị V1. Nguyên đơn không cung cấp được kết luận của cơ quan thanh tra cùng cấp, văn bản có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp đất đai, bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực thi hành công nhận tài sản đang tranh chấp thuộc quyền sở hữu của bà Hoàng Thị V1, trong đó có kết luận về việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp thì việc thu hồi Giấy chứng nhận được thực hiện theo bản án, quyết định đó. Trình  bày  của  nguyên đơn  và  các  tài  liệu  Hợp  đồng  mua  bán  nhà  ngày 18/9/2006, Giấy cam kết ngày 18/10/2008 có trong hồ sơ vụ án không đủ căn cứ xác định Giấy chứng nhận này được Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H ban hành trái quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm  không chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn là có căn cứ.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn cung cấp “ Tờ cam kết” đề ngày 18/10/2008 ghi tên ông Hồ Hoàng Đ( có chữ ký của ông Đ, bà N, ông T1, bà T2, bà H) và 01 đơn xin cấp số nhà ghi tên ông Hồ Hoàng Đ. Đại diện theo ủy quyền của bị đơn không thừa nhận của ông Đ, Hội đồng xét xử yêu cầu nguyên đơn và anh em của nguyên đơn cung cấp chữ ký mẫu của ông Hồ Hoàng Đ nhưng không ai cung cấp được nên không có cơ sở giám định chữ ký trong tờ cam kết có phải của ông Hồ Hoàng Đ hay không?

Mục [2.2] của bản án sơ thẩm cũng như được ghi nhận lại trong bản án phúc thẩm này về quyền khởi kiện lại, cụ thể: “Nguyên đơn được quyền khởi kiện lại vụ án tranh chấp xác định di sản thừa kế và phân chia di sản thừa kế đối với tài sản nói trên sau khi đã được Tòa án có thẩm quyền công nhận quyền sở hữu sử dụng tài sản là nhà đất tại C ấp T, Thới Tam T5, H thuộc về bà Hoàng Thị V1khi giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất bằng một vụ án khác”.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Hội đồng xét xử sơ thẩm:

Căn cứ khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn không được Tòa án chấp nhận.

Đối với yêu cầu xác định di sản không được chấp nhận, nguyên đơn phải chịu án phí không giá ngạch là 300.000 đồng là có căn cứ.

Đối với yêu cầu phân chia di sản thừa kế, nguyên đơn yêu cầu được chia 1/5 giá trị di sản theo kỷ phần thừa kế: Do không được hưởng thừa kế nên không phải nộp án phí nên có căn cứ chấp nhận phần kháng nghị, kháng cáo này.

[4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận phần kháng cáo, kháng nghị về việc nguyên đơn không phải nộp án phí giá ngạch.

[5] Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn không phải chịu.

[Nguồn: Bản án số 174/2025/DS-PT ngày 14/3/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]

Xem file đính kèm toàn văn Bản án số: 174/2025/DS-PT

………………….

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 2, Star Tower, số 68 Dương Đình Nghệ, phường Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan