
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đơn kháng cáo của ông Phạm Thanh L1, bà Nguyễn Thị S, chị Phạm Anh N, chị Phạm Ngọc T và anh Phạm Đình Nhật D được thực hiện trong thời hạn, đúng hình thức nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo yêu cầu hủy toàn bộ bản án sơ thẩm và công nhận quyền sử dụng diện tích 626.677,3m² đất rừng cho gia đình ông L1, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguồn gốc đất để gia đình ông L1 vào quản lý và sử dụng đất xuất phát từ quan hệ hợp đồng liên doanh, liên kết trồng rừng giữa L2 ngư trường U Minh II với Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh M, sau đó là Hợp đồng liên doanh liên kết số 08/LDLK ngày 22/6/1996 giữa L2 ngư trường U Minh II với ông Lý Minh Đ. Thời hạn hợp đồng là 15 năm. Sau đó, ông Đ đã chuyển giao thực hiện hợp đồng lại cho ông L1 vào ngày 12/8/1996 nên ông L1 trực tiếp quản lý đất, đầu tư trồng rừng, khai thác và phân chia sản phẩm với L2 ngư trường U Minh II. Từ khi nhận chuyển giao hợp đồng từ năm 1996 đến khi hết hạn hợp đồng liên doanh liên kết vào năm 2011 và cho đến nay. Do ông L1 không giao trả lại đất khi hết hạn hợp đồng nên Công ty khởi kiện yêu cầu giao trả đất sau khi quan hệ liên doanh, liên kết và việc khai thác, phân chia sản phẩm kết thúc. Vì vậy, cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng liên doanh liên kết sản xuất trên đất lâm nghiệp là đúng. Việc giải quyết hậu quả của hợp đồng có liên quan đến nghĩa vụ giao trả đất của ông L1 không làm vụ án đương nhiên trở thành tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất theo Điều 236 Luật Đất đai năm 2024 theo yêu cầu kháng cáo của ông L1, bà S, chị T, chị N và anh D.
[2.2] Về quyền quản lý đất của Công ty: Theo Quyết định số 1009/QĐ- UBND ngày 02/7/2008 của Chủ tịch UBND tỉnh C, Công ty L4 là một trong năm Công ty L3. Tại mục 8 Điều 1, UBND tỉnh giao Công ty L3 quản lý tổng diện tích 31.475 ha đất lâm nghiệp, trong đó có 3.406,8 ha đất liên kết và 9.329,1 ha đất quốc doanh trực quản. Do đó, Công ty L3 kế thừa quyền, nghĩa vụ và quỹ đất do Công ty L4 quản lý trước khi hợp nhất.
Phần đất tranh chấp thuộc khoảnh 5, Tiểu khu B, được L2 ngư trường U Minh II đưa vào liên doanh theo Hợp đồng số 08/LDLK ngày 22/6/1996. Biên bản thanh lý ngày 28/4/2019 xác định diện tích thanh lý thực tế là 63,2 ha. Theo kết quả đo đạc ngày 30/01/2024 xác định diện tích đất gia đình ông L1 đang quản lý là 626.677,3m². Các tài liệu này phù hợp về nguồn gốc, vị trí và quá trình quản lý, đủ căn cứ xác định diện tích đất tranh chấp thuộc quỹ đất lâm nghiệp do Công ty quản lý. Việc Công ty thực hiện hợp đồng liên doanh liên kết theo quy định không làm mất quyền quản lý đất và quyền yêu cầu người sử dụng đất có nguồn gốc từ hợp đồng đã chấm dứt phải giao trả đất. Do đó, ông L1, bà S, chị T, chị N và anh D kháng cáo cho rằng Công ty không có quyền quản lý đất là không có cơ sở.
[2.3] Giấy ủy nhiệm – giới thiệu ngày 12/11/1995, giấy ủy quyền ngày 06/3/1996, giấy phép khoan giếng và các văn bản có liên quan thể hiện ông L1 được giao trực tiếp tổ chức sản xuất, đầu tư, quản lý và thực hiện hợp đồng. Đây không phải quyết định giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Các tài liệu này chứng minh ông L1 là người trực tiếp thực hiện việc đầu tư, quản lý đất trong quan hệ liên doanh, liên kết theo hợp đồng, không có cơ sở chứng minh ông L1 được chuyển giao quyền sử dụng đất lâu dài. Bên ủy quyền cũng không thể thông qua giấy ủy quyền chuyển giao quyền sử dụng đất vượt quá phạm vi quyền của mình. Do đó, ông L1, bà S, chị T, chị N và anh D kháng cáo cho rằng theo giấy giới thiệu – ủy quyền thì gia đình ông L1 có quyền tiếp tục quản lý đất là không có cơ sở.
[2.4] Hợp đồng số 08/LDLK ngày 22/6/1996 quy định thời hạn liên doanh là 15 năm. Sau khi ký hợp đồng, ông Đ giao ông L1 trực tiếp quản lý, đầu tư trồng rừng, L2 ngư trường và Công ty biết nhưng không phản đối, L2 ngư trường và Công ty T3 thỏa thuận với ông L1 trong quá trình khai thác, phân chia sản phẩm. Vì vậy, cấp sơ thẩm xác định ông L1 là người thực tế thực hiện quyền, nghĩa vụ của ông Đ trong quan hệ hợp đồng liên doanh là có căn cứ. Tuy nhiên, việc chuyển giao này không làm phát sinh cho ông L1 quyền sử dụng đất không xác định thời hạn và cũng không làm thay đổi thời hạn Hợp đồng số 08/LDLK.
Hợp đồng hết thời hạn ngày 22/6/2011. Đến ngày 28/4/2019, Công ty và ông Đ lập biên bản thanh lý nhưng Công ty tiếp tục để ông L1 quản lý cây rừng lâm sản, phiếu thu tiền năm 2017, 2018 và Quyết định số 365/QĐ-CTy ngày 24/5/2024 phê duyệt hồ sơ khai thác diện tích 48,38 ha nhằm giải quyết quyền lợi của ông L1 đối với cây rừng đã đầu tư, không phải văn bản giao đất, cho thuê đất, gia hạn hợp đồng hoặc công nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông L1. Sau khi khai thác, phân chia sản phẩm, ông L1 có nghĩa vụ giao trả đất; việc tự trồng lại cây không làm phát sinh một chu kỳ liên doanh mới khi hai bên không ký kết hợp đồng hoặc có thỏa thuận khác. Do đó, ông L1, bà S, chị T, chị N và anh D kháng cáo cho rằng gia đình ông L1 có quyền tiếp tục quản lý đất được tiếp tục trồng cây rừng và được tiếp tục khai thác, thu hoạch cây trồng là không có cơ sở.
[2.5] Biên bản làm việc ngày 16/8/2016, thể hiện Công ty tạo điều kiện để ông L1 bàn bạc, tiến tới ký hợp đồng hợp tác đầu tư theo phương án mới theo chủ trương của Ủy ban nhân dân tỉnh. Chính ông L1 thừa nhận hai bên không thống nhất nên ông L1 không ký hợp đồng. Vì vậy, biên bản này chỉ thể hiện quá trình trao đổi, không làm phát sinh quyền được tiếp tục sử dụng đất. Việc UBND tỉnh không chấp nhận đề nghị xin thuê đất của ông L1 năm 2019 cũng cho thấy ông L1 không được xác lập quyền sử dụng đất độc lập đối với diện tích đất tranh chấp.
[2.6] Đại diện Công ty thừa nhận ông L1 trực tiếp đầu tư vốn, trồng và bảo vệ rừng. Công ty thực hiện quản lý hành chính, phòng cháy, chữa cháy và phân chia sản phẩm. Đây là những tình tiết phù hợp với việc ông L1 trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ hợp đồng liên doanh, không phải sự thừa nhận ông L1 có quyền sử dụng đất. Trong quan hệ liên doanh, việc Công ty không trực tiếp bỏ vốn trồng rừng không làm mất quyền quản lý đất của Công ty. Vì vậy, không làm mất quyền khởi kiện của Công ty và không có căn cứ thừa nhận quyền sử dụng đất hiện nay là của gia đình ông L1 theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.7] Ông L1 cho rằng tại phiên tòa sơ thẩm, đã yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất diện tích 63,2 ha nhưng không được cấp sơ thẩm giải quyết. Xét thấy, đây là yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn. Tuy nhiên, yêu cầu này phải được đưa ra đúng thời điểm và thực hiện thủ tục theo quy định tại Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc ông L1 chỉ trình bày tại phiên tòa đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và công nhận quyền sử dụng đất cho ông L1, nhưng trước đó ông L1 không có đơn phản tố, không thực hiện thủ tục và nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định nên cấp sơ thẩm không tuyên công nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông L1 không phải là bỏ sót yêu cầu phản tố của ông L1.
[2.8] Khoản 1 Điều 184 Luật Đất đai năm 2024 quy định về đất rừng sản xuất “Nhà nước giao đất rừng sản xuất không thu tiền sử dụng đất cho các đối tượng sau đây: Cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp thường trú trên địa bàn cấp xã nơi có đất rừng sản xuất là rừng trồng đối với diện tích đất trong hạn mức giao đất …”, việc ông L1 trực tiếp sản xuất trên đất để đầu tư trồng rừng, khai thác và phân chia sản phẩm với Công ty theo hợp đồng liên doanh liên kết thì không thể đương nhiên trở thành người sử dụng hợp pháp đối với phần đất đang quản lý. Gia đình ông L1 không có quyết định giao đất, cho thuê đất hoặc giấy chứng nhận đối với diện tích tranh chấp nên không có căn cứ áp dụng Điều 184 để công nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông L1. Ngoài ra, theo khoản 2 Điều 137 và điểm b khoản 2 Điều 181 Luật Đất đai năm 2024 điều chỉnh trường hợp hộ gia đình, cá nhân có giấy tờ của nông, lâm trường quốc doanh về việc giao đất để làm nhà ở hoặc làm nhà ở kết hợp sản xuất nông, lâm nghiệp trước ngày 01/7/2004 và đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, ông L1 cho rằng giấy ủy nhiệm, giấy giới thiệu, giấy ủy quyền thực hiện hợp đồng, giấy phép khoan giếng và các biên bản phân chia lâm sản, biên lai nộp thuế do ông L1 xuất trình là điều kiện để công nhận giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất trên diện tích đất 63,2 ha cho gia đình ông L1 là không có cơ sở.
[2.9] Ông L1, bà S, chị T, chị N và anh D kháng cáo viện dẫn các Điều 87 và 117 Luật Đất đai năm 2024 để cho rằng không thực hiện đúng trình tự thu hồi đất của gia đình ông L1. Tuy nhiên, đây là tranh chấp nghĩa vụ giao trả đất khi quan hệ về hợp đồng liên doanh, liên kết đã kết thúc. Vì vậy, không đặt ra trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế – xã hội, vì lợi ích quốc gia công cộng theo quy định tại các Điều luật này.
[2.10] Gia đình ông L1 quản lý đất công khai, liên tục và trực tiếp đầu tư trong thời gian dài là tình tiết đã được cấp sơ thẩm ghi nhận. Tuy nhiên, việc chiếm hữu bắt nguồn từ quan hệ hợp đồng liên doanh, liên kết và giấy ủy quyền thực hiện hợp đồng, nên chỉ có căn cứ trong phạm vi, thời hạn và mục đích của quan hệ hợp đồng đã xác lập. Do đó, khi quan hệ hợp đồng liên doanh kết thúc, sản phẩm cây rừng đã được khai thác, phân chia sản phẩm xong, Công ty yêu cầu giao trả đất thì ông L1 không còn căn cứ tiếp tục quản lý sử dụng đất theo quy định về quyền sở hữu tại các Điều 158, 163, 165 và khoản 2 Điều 166 Bộ luật Dân sự. Mặc dù thời gian quản lý sử dụng đất của gia đình ông L1 từ năm 1996 kéo dài đến nay, việc nộp thuế, bảo vệ rừng, đào kênh, khoan giếng và xây dựng công trình là việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của ông L1 theo hợp đồng, không làm phát sinh quyền sử dụng đất do gia đình ông L1 quản lý đất ổn định lâu dài thì được công nhận
tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là đúng nên không có căn cứ hủy bản án sơ thẩm theo yêu cầu kháng cáo của ông L1, bà S, chị T, chị N và anh D.
[2.13] Về biên bản phiên tòa, tài liệu do gia đình ông Long cung C thể hiện sau khi xem biên bản, ông L1 đã yêu cầu bổ sung nội dung biên bản và đã cùng Thẩm phán, Thư ký đã ký xác nhận vào phần bổ sung. Việc bổ sung theo yêu cầu của đương sự và có xác nhận phù hợp Điều 236 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên không có việc làm sai lệch hồ sơ. Các nội dung được cho là ghi thiếu chủ yếu liên quan việc ông L1 trực tiếp đầu tư, quản lý đất và lời trình bày của đại diện Công ty; đây là những tình tiết đã được xem xét và không làm thay đổi bản chất nguồn gốc sử dụng đất, không làm ảnh hưởng quyền tranh tụng và không phải vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nên không có cơ sở hủy bản án sơ thẩm theo yêu cầu kháng cáo của ông L1, bà S, chị T, chị N và anh D.
[2.14] Bản án sơ thẩm đã ghi nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án. Việc Kiểm sát viên nêu một số thiếu sót tố tụng không đồng nghĩa xác định có vi phạm nghiêm trọng làm thay đổi kết quả giải quyết. Những người kháng cáo đã tham gia tố tụng, cung cấp nhiều tài liệu, trình bày ý kiến và tranh luận; không chứng minh được thiếu sót nào làm ông L1, bà S, chị T, chị N và anh D không thực hiện được quyền tham gia tố tụng nên không có cơ sở để hủy bản án sơ thẩm.
[2.15] Ông L1, bà S, chị T, chị N và anh D cho rằng cấp sơ thẩm viện dẫn Điều 166, Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 trong khi Luật Đất đai năm 2024 đã có hiệu lực là thiếu sót về căn cứ pháp luật. Tuy nhiên, quyền quản lý đất của Công ty được chứng minh bằng Quyết định số 1009/QĐ-UBND và những tài liệu liên doanh; nghĩa vụ giao trả đất phát sinh khi căn cứ sử dụng đất của ông L1 chấm dứt. Thiếu sót viện dẫn không làm thay đổi bản chất và kết quả giải quyết vụ án nên không có căn cứ hủy án.
[3] Đối với cây trồng, công trình và công sức đầu tư trên đất, biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 18/01/2024 ghi nhận có một căn nhà cây gỗ địa phương, nền đất; không có công trình đầu tư khai thác du lịch. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án phối hợp đơn vị chuyên môn tiến hành xem xét, thẩm định và định giá nhưng không thể thực hiện được do gia đình ông L1 không cho những người làm nhiệm vụ vào khu đất do gia đình ông L1 đang quản lý. Vì vậy, không có cơ sở xác định số lượng, hiện trạng và giá trị tài sản. Tuy nhiên, theo Hợp đồng số 08/LDLK ngày 22/6/1996 cũng không có thỏa thuận về việc Công ty phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về nhà cửa cây trồng trên đất khi hết hạn hợp đồng. Mặc khác, từ khi hết thời hạn hợp đồng vào ngày 22/6/2011 đến nay giữa ông L1 và Công ty không tiếp tục ký hợp đồng và cũng không có thỏa thuận bồi thường thiệt hại về nhà, công trình trên đất khi ông L1 di dời ra khỏi đất. Tuy nhiên, ông L1 và gia đình ông L1 vẫn tiếp tục quản lý sử dụng đất, trồng cây rừng và nhiều loại cây khác phục vụ cho nhu cầu cuộc sống gia đình không được sự đồng ý của Công ty, nhưng đã qua những cây rừng đến chu kỳ khai thác Công ty vẫn đồng ý cho ông L1 khai thác để phân chia sản phẩm với Công ty X. Do đó, hiện nay buộc ông L1 và gia đình ông L1 phải tháo dỡ, di dời tài sản và các cây trồng trái phép trên đất để giao trả đất cho Công ty mà không tính giá trị bồi thường là phù hợp.
[4] Đối với yêu cầu của Công ty về việc buộc ông L1 giao trả 0,59 ha cây tràm, keo lai và giá trị cây tràm trên diện tích 0,23 ha đã chặt là 7.362.000 đồng, do nguyên đơn tự nguyện rút yêu cầu. Cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết theo điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự là đúng pháp luật.
[5] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông L1, bà S, chị T, chị N và anh D không cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của các đương sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Cà Mau.
[6] Chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc phần đất tranh chấp là 142.549.000 đồng, Công ty đã nộp, do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên cấp sơ thẩm buộc ông L1 hoàn trả cho Công ty là phù hợp.
[7] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông L1, bà S, chị T, chị N và anh D không được chấp nhận nên phải chịu. Án phí dân sự sơ thẩm được giữ nguyên.
[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[NGUỒN BẢN ÁN SỐ 548/2026/DS-PT NGÀY 18/8/2026 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU]
LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 548/2026/DS-PT
………………….
Luật sư tại Đà Nẵng:
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn