
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị M và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Thùy L1 làm trong hạn luật định, nộp tiền tạm ứng án phí đúng quy định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung kháng cáo: Tại phiên tòa chị L1 và bà M giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Tại phiên tòa cả phía nguyên đơn và bị đơn đều xác định diện tích đất đang tranh chấp về giá trị có nguồn gốc được nhận chuyển nhượng từ ông Vũ Duy N1, căn cứ vào các chứng cứ đã được thụ thập tại cấp sơ thẩm có đủ căn cứ xác định diện tích tại thửa đất số 97, tờ bản đồ số 51, tọa lạc tại phường P, thành phố B là do bà Nguyễn Thị T nhận chuyển nhượng hợp pháp từ ông Vũ Duy N1 vào năm 1996. Việc chuyển nhượng này được thực hiện thực tế, có giao nhận tiền đầy đủ với tổng giá trị 06 chỉ vàng 24k, có giấy viết tay thể hiện ý chí chuyển nhượng và đã được chính ông Vũ Duy N1 xác nhận trong suốt quá trình tố tụng. Ông N1 khẳng định rõ việc mua bán đất giữa ông và bà T là có thật, do chính ông trực tiếp viết giấy chuyển nhượng, ký tên và nhận đủ tiền từ bà T; Sau khi nhận chuyển nhượng, bà T đã trực tiếp xây dựng căn nhà cấp 4 trên đất và cho em ruột là ông Nguyễn Văn C vào ở. Việc ông C sinh sống, sử dụng đất là trên cơ sở quan hệ gia đình và sự cho ở nhờ của bà T, không phải là kết quả của việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Chính ông C khi còn sống cũng nhiều lần thừa nhận nghĩa vụ thanh toán tiền đất cho bà T nhưng chưa có khả năng thực hiện, điều này được người con ruột của ông C là anh Nguyễn Thành L xác định, đồng thời, ông N1 cũng xác định giấy mua bán đất lập ngày 01/7/1997 giữa ông N1 với ông C thực chất là do bà M nhờ ông H1 viết, tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm bà M cũng thừa nhận, bản thân ông N1 và ông H1 cũng khẳng định ông N1 không viết và không ký vào giấy viết tay năm 1997 do ông H1 viết, do đó phủ nhận hoàn toàn việc có giao dịch mua bán đất với ông Nguyễn Văn C.
Đối với nội dung kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cho rằng lời khai của ông Vũ Duy N1 không thống nhất, lúc khai bán đất cho bà Nguyễn Thị T, lúc khai bán đất cho ông Nguyễn Văn C nên không có căn cứ xác định nguồn gốc đất. Xét, trong vụ án này, mặc dù ông N1 có thời điểm trình bày chưa thống nhất, nhưng lời khai thừa nhận việc trực tiếp nhận tiền và chuyển nhượng đất cho bà Nguyễn Thị T phù hợp với quá trình quản lý, sử dụng đất thực tế và phù hợp với các chứng cứ khách quan khác.
Đối với việc thửa đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị M không làm thay đổi bản chất pháp lý của nguồn gốc đất, bởi giấy chứng nhận được cấp trên cơ sở hồ sơ kê khai có sử dụng giấy tờ không phản ánh đúng giao dịch thực tế, giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất không phải là chứng cứ duy nhất, tuyệt đối để xác định quyền sử dụng đất, mà phải được xem xét trong mối quan hệ với nguồn gốc hình thành, quá trình quản lý, sử dụng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đồng thời diện tích đất về nguồn gốc đất do ông N1 chuyển nhượng chứ không phải do Nhà nước “công nhận quyền sử dụng đất như đất giao có thu tiền sử dụng đất” cho ông C như Luật sư trình bày tại phiên tòa. Hơn nữa, toàn bộ lời khai của người chuyển nhượng thực sự là ông Vũ Duy N1, của người viết giấy mua bán là ông Nguyễn Đình H1, cũng như của người con ruột ông C là anh Nguyễn Thành L đều thống nhất, khách quan và phù hợp với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định diện tích đất trên là của bà T không phải là di sản thừa kế của ông C mà thuộc về bà T nên quyền và nghĩa vụ đặt ra cho người đang quản lý là đúng quy định, do bà T không tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất mà chỉ đòi lại giá trị quyền sử dụng đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị M, do đó Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai đã tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T và buộc bà Nguyễn Thị M hoàn trả giá trị quyền sử dụng đất cho bà T là có căn cứ đúng quy định.
Tại phiên tòa phúc thẩm bà T chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà M phải thanh toán giá trị 100m² của thửa đất theo chứng thư thẩm định giá với số tiền là 2.520.943.000đ, riêng phần 3m² sau khi đo đạc thực tế bà không yêu cầu. Xét thấy, việc tự nguyện của bà T nêu trên phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị M và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thùy L1; Sửa khách quan một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 393/2025/DSST ngày 27/9/2025 của Tòa ánnhân dân khu vực 1 – Đồng Nai về giá trị quyền sử dụng đất và án phí dân sự sơ thẩm.
[3]. Các quyết định khác của Bảnán sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật
[4]. Về án phí:
– Về án phí dân sự sơ thẩm: Do sửa một phần về phần giá trị quyền sử dụng đất nên phần án phí dân sự sơ thẩm bà M phải chịu là 82.418.680đ (tám mươi hai triệu, bốn trăm mười tám nghìn, sáu trăm tám mươi đồng).
– Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bà M và chị L1 không được chấp nhận nên mỗi người phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000đ được trừ vào số tiền tạm ứng án phí kháng cáo đã nộp (bà M và chị L1 đã nộp xong).
[5]. Quan điểm và đề nghị của Việnkiểm sát nhân dân tỉnh Đ tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.
[6]. Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị đơn không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, không có căn cứ nên được ghi nhận.
[NGUỒN: Bản án số 94/2026/DS-PT NGÀY 02/02/2026 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI]
LINK PDF: Bản án số 94/2026/DS-PT
………………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn