Feel free to go with the truth

Trang chủ / BIỂU MẪU VÀ VĂN BẢN PHÁP LUẬT / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] Bản án chấp nhận yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất của người cùng khai hoang

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] Bản án chấp nhận yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất của người cùng khai hoang

  1. Bản án chấp nhận yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất của người cùng khai hoang.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Các đương sự thừa nhận diện tích đất tranh chấp là 36.012,9m2 thuộc một phần thửa đất số: lô 2, khoảnh IV, tiểu khu 558, tờ bản đồ số 01/LN-TN tại khu vực V Thị (theo lời khai của các đương sự và những người làm chứng thì V Thị còn gọi là V Voi, Hố C), thôn 2, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam mà hộ ông

Võ Văn Đ và bà Trần Thị L được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB 390156 ngày 19/7/2010.

[2] Về nguồn gốc đất và quá trình khai hoang, sử dụng đất; các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án thể hiện:

Tại bản tự khai ngày 17/10/2016 (bút lục 155), bị đơn bà Trần Thị L khai: “khi làm chung cháu P chỉ trả tiền khai hoang, trồng cây xuống đất”. Tại Biên bản đối chất ngày 09/8/2019 (bút lục 359), ông P và ông Đ thừa nhận từ giữa năm 2003 đến đầu năm 2004, nguyên đơn và bị đơn cùng nhau khai hoang diện tích đất hiện nay đang tranh chấp. Ngoài ra, ông Đ còn trình bày: “Trước khi cùng nhau khai hoang thì vào năm 1988 vợ chồng tôi đã sử dụng để trồng đậu xanh và lúa đến năm 1998 thì vợ chồng tôi không sử dụng đất này nữa. Sau đó đến giữa năm 2003 và đầu năm 2004 thì tôi và anh P cùng khai hoang và trồng keo”. Người làm chứng là ông Đoàn R khai: “Trước năm 2003 khu đất V Thị do tôi canh tác trỉa đậu xanh, nguồn gốc là khu núi trọc, chưa có cây cối gì cả, thời gian đó không có ai canh tác sử dụng, khi tôi đang canh tác thì vào năm 2003, anh P và ông Đ dẫn cán bộ địa chính đến khu đất tranh chấp làm gì thì tôi không biết nhưng sau đó tôi thấy ông Đ và anh P thuê người phát rừng nên tôi không sử dụng nữa” (bút lục 171). Người làm chứng là ông Nguyễn T khai: “Khu vực hiện nay hai bên đang tranh chấp trước đây có tên gọi là V Thị khu đất này là đồi núi trống, đồi trọc chưa có khai thác sử dụng gì cả, đất cũng chưa được cấp đất. Đến năm 2003 tôi được biết ông P và vợ chồng ông Đ có khai hoang khu vực đất này…. hai người cùng làm chung, khai hoang đến khi trồng keo xuống đất năm 2004” (bút lục 173)

[3] Lời khai của ông P, ông Đ và bà L phù hợp với lời khai của những người làm chứng. Như vậy, có căn cứ xác định diện tích đất tranh chấp 36.012,9m2 có nguồn gốc do ông P và vợ chồng ông Đ, bà L cùng khai hoang từ năm 2003, cùng sử dụng để trồng keo chung đến năm 2011 cùng khai thác thì xảy ra tranh chấp về quyền sử dụng đất.

[4] Mặc dù ông Đ có đơn xin nhận đất lâm nghiệp vào năm 2003 nhưng thực tế đất chưa được khai phá, sau đó ông P và vợ chồng ông Đ, bà L cùng khai hoang và đến năm 2010 Ủy ban nhân dân xã T mới xét giao đất rừng theo đơn đề nghị của ông Đ. Tại biên bản lấy lời khai ngày 15/11/2018 (bút lục 316), ông Đoàn Kim T (là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T từ năm 2010 đến năm 2015) khai: “nếu tại thời điểm họp đề nghị cấp đất cho ông Đ, Ủy ban nhân dân xã T biết được ông Đ và ông P cùng làm chung diện tích đất hiện nay đang tranh chấp thì Ủy ban nhân dân xã T sẽ không xét đề nghị cấp đất cho hộ ông Đ”.

[5] Vợ chồng ông Đ, bà L cho rằng có rủ ông P cùng phát dọn để trồng keo và nói với ông P là chỉ chia hoa lợi chứ không chia đất nhưng không có chứng cứ chứng minh.

[6] Thửa đất có nguồn gốc ông P và vợ chồng ông Đ, bà L cùng khai hoang từ năm 2003, cùng sử dụng để trồng keo chung nên diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng chung của ông P và vợ chồng ông Đ, bà L. Tuy nhiên, trong quá trình quản lý, sử dụng vợ chồng ông Đ, bà L đã tự ý kê khai, đăng ký để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mà không có ý kiến của ông P là xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông P. Việc Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Đ, bà L là không đúng qui định của pháp luật.

[7] Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P, buộc vợ chồng ông Đ, bà L giao cho ông P được quyền sử dụng diện tích đất 13.474,5m2 (khu S1) và các tài sản có trên đất, gồm: 3.368 cây keo tai tượng, 01 cây trâm, 01 cây bùi, 01 cây ké; đồng thời, buộc ông P có nghĩa vụ thanh toán giá trị các tài sản này cho bị đơn với tổng số tiền là 15.587.000 đồng; giao cho vợ chồng ông Đ, bà L được quyền sử dụng diện tích đất 22.538,4m2 (khu S2) và buộc ông Đ, bà L có nghĩa vụ thanh toán giá trị chênh lệch về quyền sử dụng đất cho ông P với số tiền là 18.126.000 đồng {(18.006m2  – 13.474,5m2) x 4.000 đồng/m2  = 18.126.1 đồng}. Sau khi khấu trừ vào số tiền ông P phải thanh toán cho ông Đ, bà L; còn lại buộc ông Đ, bà L phải thanh toán cho ông P số tiền 2.539.000 đồng (18.126.000 đồng – 15.587.000 đồng = 2.539.000 đồng) là có căn cứ, đúng pháp luật.

[8] Do việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng pháp luật và giao một phần diện tích đất trên cho ông P nên Tòa án cấp sơ thẩm tuyên hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB 390156 ngày 19/7/2010 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho hộ ông Đ, bà L đối với diện tích đất 13.474,5m2 là đúng pháp luật.

[9] Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[10] Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[Nguồn: Bản án phúc thẩm số 60/2022/DS-PT Ngày 08/4/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG]

Xem thêm các chia sẻ tài liệu pháp luật của chúng tôi tại các địa chỉ:

📣 Website: www.fdvn.vn hoặc www.fdvnlawfirm.vn

♥️ Fanpage and Group:

https://www.facebook.com/fdvnlawfirm

https://www.facebook.com/lawyersindanang

https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat

https://www.facebook.com/groups/saymengheluat

https://www.facebook.com/groups/legalforeignersinvietnam

🎵 Kênh Youtube: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

🎵 FDVN trên Tik Tok: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

☎️ Kênh Telegram FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Xem file đính kèm toàn văn Bản án: Bản án phúc thẩm số 60/2022/DS-PT

Bài viết liên quan