Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Bản án bị hủy do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi không thụ lý, giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn trong cùng vụ án

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Bản án bị hủy do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi không thụ lý, giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn trong cùng vụ án

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Ngày 03/10/2025, bị đơn bà Trần Thục U kháng cáo bản án sơ thẩm. Đơn kháng cáo của bị đơn là trong thời hạn quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, do đó Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn vắng mặt. Do đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Xét kháng cáo của bị đơn bà Trần Thục U:

Do bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét các vấn đề:

[2.1]. Về tố tụng:

[2.1.1]. Nguyên đơn bà Le Pauline Bich P (Lê Thị Bích P1) khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Trần Thục U trả lại khoản tiền gốc 4.681.818.182₫ theo Hợp đồng vay tiền ngày 07/9/2018 và tổng khoản tiền lãi 2.024.242.423đ (tại phiên toà sơ thẩm đại diện nguyên đơn thay đổi yêu cầu, chỉ yêu cầu trả lãi 5%/năm/số tiền gốc chưa trả theo các phần kỳ tính từ thời điểm vi phạm đến tháng 8 năm 2025 là 738.636.000₫); nguyên đơn bà L1 (Lê Thị Bích P1) hiện đang định cư tại Hoa Kỳ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh (tại thời điểm thụ lý vụ án) theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 469, khoản 3 Điều 35, Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự. Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà thụ lý vụ án và xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” là đúng quy định tại khoản 2 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2.1.2]. Ngày 31/10/2024, Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà thụ lý vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa guyên đơn bà L1 (Lê Thị Bích P1), bị đơn bà Trần Thục U. Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 17/02/2025, trước thời điểm Toà án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, bị đơn bà Trần Thục U có đơn yêu cầu phản tố, bà U cho rằng thực tế giữa bà P1 và bà U không có chuyện vay mượn tiền của nhau, số tiền 2.806.000.000 đồng bà U đã trả cho bà P1 là tiền trả để mua lại giá trị 1/3 căn nhà A H mà trước đó bà L (mẹ bà P1) đã cho bà H (mẹ bà U). Thực chất Hợp đồng vay tiền ngày 07/9/2018 không có thực, giả tạo, hai bên ký kết nhằm che giấu Hợp đồng buôn bán cùng ký ngày 07/9/2018.

Như vậy, bà U cho rằng khoản tiền đã trả cho bà P1 là trả tiền mua nhà, và đây chính là khoản tiền Toà án cấp sơ thẩm xác định là khoản bà U trả nợ bà P1 theo Hợp đồng vay tiền ngày 07/9/2018. Tuy nhiên, Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà không thụ lý yêu cầu phản tố của bị đơn bà Trần Thục U đối với nguyên đơn bà L1 (Lê Thị Bích P1) là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng quy định tại Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền của bị đơn quy định tại khoản 4 Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2.2]. Về nội dung:

Theo Hợp đồng vay tiền ký kết giữa bà L1 (Lê Thị Bích P1 – bên cho vay) với và Trần Thục U (bên vay) ngày 07/9/2018 (BL 29), được Công chứng tại Văn phòng C có nội dung: bà Le Pauline Bich P (Lê Thị Bích P1) cho bà Trần Thục U vay số tiền 7.000.000.000đ; thời hạn vay từ 07/9/2018 đến ngày 31/12/2023; lãi suất 0%; khi đến hạn mà bên vay không trả gốc thì chịu lãi suất 20%/năm đối với số tiền vay chưa trả; phương thức trả nợ:

+ (Đ) Tháng 6/2019=2.000.000.000₫

+ (Đ) Tháng 6/2020 =1.000.000.000₫

+ (Đ) Tháng 6/2021=1.000.000.000₫

+ (Đ) Tháng 6/2022 =1.000.000.000₫
+ (Đ) Tháng 6/2023 =1.000.000.000₫

+ (Đ) Tháng 12/2023 =1.000.000.000₫

Việc giao nhận số tiền vay được hai bên tự thực hiện và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật ngoài sự chứng kiến của Công chứng viên.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Trần Thục U (bên vay) cho rằng bị bà Lê Thị Bích P1 ép buộc ký hợp đồng vay tiền, thực chất hợp đồng vay tiền là giả tạo, che giấu Văn bản thoả thuận buôn bán ngày 07/9/1018 được ký kết giữa bà U và bà P1, số tiền ghi trong hợp đồng vay tiền là 7.000.000.000 đồng tương ứng với 300.000 USD trong Văn bản thoả thuận buôn bán ngày 07/9/1018. Nội dung Văn bản thoả thuận buôn bán ngày 07/9/1018 thể hiện: bà U đồng ý mua 1/3 thửa đất tại 129 H, N (thửa 100, tờ bản đồ số 04) của bà Pauline Bích P2 Lê với giá 300.000 USD, số tiền 300.000 USD sẽ được trả theo khoá biểu sau:

* Tháng 6/2019: 88.000 USD (50.000 + 38.000)

* Tháng 6/2020: 44.000 USD

* Tháng 6/2021: 44.000 USD

* Tháng 6/2022: 44.000 USD

* Tháng 6/2023: 44.000 USD

* Tháng 12/2023: 36.000 USD

Tổng cộng: 300.000 USD

Tại Bản tự khai ngày 29/11/2024 (BL 49), nguyên đơn thừa nhận bị đơn đã trả 2.000.000.000 đồng của đợt 1 năm 2019 và 318.181.818 đồng của đợt 2 năm 2020; bị đơn lập vi bằng ngày 24/02/2025, tại Văn phòng T. Vi bằng nội dung tin nhắn trích xuất từ điện thoại của bà U về thông tin giữa hai tài khoản Messenger Trần Thục U với tài khoản “Pauline Le” để chứng minh đây là tài khoản của bà Lê Thị Bích P1. Nội dung các tin và hình ảnh bà Trần Thục U cho rằng các tin nhắn này bà P1 thừa nhận từ ngày 17/7/2019 đến 28/3/2021, bà U đã chuyển cho bà P1 07 lần, tổng cộng 72.000 USD, tương đương 1.800.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của bà P1 không thừa nhận các nội dung tin nhắn nhưng thừa nhận bà U đã trả tiền gốc cho bà P1 tổng cộng 2.318.181.818 đồng.

Nguyên đơn cho rằng đã giao cho bị đơn nhiều lần tổng số tiền vay 7.000.000.000 đồng; bị đơn không thừa nhận đã nhận số tiền vay như nguyên đơn trình bày; nguyên đơn không cung cấp được giấy giao, nhận tiền giữa các bên. Tuy nhiên, cả nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận có việc bị đơn trả tiền cho nguyên đơn sau thời điểm lập hợp đồng vay nhưng mục đích trả tiền các bên khai nhận nội dung khác nhau. Bên cạnh đó, bà P1 thừa nhận số tiền gốc bà U đã trả là 2.318.181.818 đồng, lớn hơn số tiền bà U thừa nhận đã trả cho bà P1 (1.800.000.000 đồng).

Toà án cấp sơ thẩm chưa làm rõ được khoản tiền bị đơn đã trả cho nguyên đơn là trả tiền vay hay trả tiền mua 1/3 thửa đất tại A H, N và sự liên quan nhau giữa Hợp đồng vay tiền và Văn bản thoả thuận buôn bán cùng ký ngày 07/9/2018 giữa bà L1 (Lê Thị Bích P1) với bà Trần Thục U, đặc biệt là có sự trùng khớp về phân kỳ thanh toán và trong số tiền bà U đã trả cho bà P1 có cả việc trả bằng USD nhưng trong hợp đồng vay tiền chỉ xác định trả bằng tiền Việt Nam, trong khi đó phương thức trả tiền trong Văn bản thoả thuận buôn bán là trả bằng USD. Tuy nhiên, Toà án cấp sơ thẩm đã chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn tổng số tiền 5.452.454.182đ, trong đó, tiền gốc là 4.681.818.182đ, tiền lãi là 738.636.000₫ là chưa có cơ sở vững chắc, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn.

[3]. Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy rằng: Toà án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi không thụ lý, giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn trong cùng vụ án; về nội dung, cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn khi chưa đủ cơ sở. Những thiếu sót này tại phiên toà phúc thẩm Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được.

Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thục U; huỷ toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 65/2025/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa để cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.

số [4]. Án phí dân sự phúc thẩm: do hủy Bản án dân sự sơ thẩm để giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm nên theo quy định tại khoản 3 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án, bà Trần Thục U không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại cho bà U số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp.

[5]. Về án phí sơ thẩm và chi phí tố tụng: do hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại nên án phí sơ thẩm và chi phí tố tụng sẽ được xem xét trong quá trình giải quyết lại vụ án.

[NGUỒN BẢN ÁN SỐ 187/2026/DS-PT NGÀY 29/6/2026 CỦA TÒA PHÚC THẨM – TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI ĐÀ NẴNG]

LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 639/2026/DS-PT
…………….

Luật sư tại Đà Nẵng:

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế:

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

 

Bài viết liên quan