
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ú nộp trong hạn luật định, phù hợp quy định Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Huỳnh Thị Á vắng mặt nhưng có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Hùng A; chị Nguyễn Thị K1, anh Nguyễn Văn K, chị Nguyễn Ngọc T1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ú:
[2.1] Căn cứ kết quả đo đạc hiện trạng khu đất ngày 11/6/2025 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh V thể hiện theo phần đất giữa nguyên đơn bà Á và bị đơn bà Ú đang tranh chấp có diện tích 202,4m2 (gồm các mốc 13, 14, 15, 6, 7, 13) loại đất 02 lúa, tọa lạc ấp K, xã M, tỉnh Vĩnh Long hiện nay do bà Nguyễn Thị Ú, anh Nguyễn Văn K đang trực tiếp quản lý sử dụng.
[2.2] Căn cứ văn bản số 607/VPĐKĐĐ-TTLT ngày 02/4/2025 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh V có nội dung: Hình thể, vị trí thửa đất 31 và thửa 32 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thời điểm năm 1996 có biến động nhiều so với hiện trạng do các đương sự xác định ranh lại nên không đủ cơ sở để xác định phần đất tranh chấp 202,4m2 thuộc thửa nào theo giấy chứng nhận đã cấp. Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh V có ý kiến: Phần đất tranh chấp có diện tích 202,4m2 Văn phòng đất đai tỉnh V chưa xác định thuộc về thửa 22, 23 (31) hay thửa 33 (32) hoặc mỗi thửa bao nhiêu m2, có vị trí, hình thể, giáp giới ra sao (bút lục 188). Văn phòng đăng ký đất đai không lưu trữ giấy chứng nhận, hồ sơ của thửa đất (vì chưa cấp đổi Vlap). Như vậy, tài liệu lưu trữ thông tin đất đai không có cơ sở để xác định bà Ú lấn chiếm ranh đất của bà Á như yêu cầu khởi kiện của bà Á. Ngoài ra, bà Á khởi kiện nhưng cũng không có căn cứ chứng minh phần đất tranh chấp có diện tích 202,4m2 là thuộc thửa 31 của bà Á.
[2.3] Về quá trình sử dụng đất: Ông Nguyễn Hùng A là người đại diện của nguyên đơn bà Á và bị đơn bà Nguyễn Thị Ú đều thừa nhận diện tích phần đất tranh chấp từ trước nay do bà Ú trực tiếp quản lý, canh tác; hiện trạng giáp ranh giữa hai thửa đất có bờ ranh đã tồn tại từ rất lâu. Từ năm 2009 hai bên bắt đầu phát sinh tranh chấp. Tại thời điểm đo đạc theo chương trình đất chính quy thì giữa hai bên đã xảy ra tranh chấp ranh đất nên không đủ cơ sở căn cứ vào số liệu đo đạc theo chương trình đất chính quy làm căn cứ giải quyết vụ án. Nếu dùng số liệu chương trình Vlap tham khảo thì diện tích đất của bà Á giảm khoảng 48m2 nhưng không có căn cứ xác định nguyên nhân giảm là do sai số trong đo đạc theo chương trình đất qua các thời kỳ hay giảm diện tích là do bị lấn chiếm ranh đất và nếu bị lấn chiếm ranh thì vị trí nào. Như vậy, bà Á không có căn cứ chứng minh đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà Á; còn hiện trạng sử dụng đất do bà Ú trực tiếp quản lý, sử dụng nhiều năm và giáp ranh đất hai bên đã có bờ ranh sử dụng ổn định, được hai bên thừa nhận bờ ranh tồn tại lâu năm nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Á là phù hợp Điều 175 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 25, Điều 26 Luật Đất đai năm 2024, vì vậy kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Ú có căn cứ chấp nhận.
[3] Từ nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thảo luận thống nhất chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ú. Sửa Bản án sơ thẩm số: 88/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3-Vĩnh Long.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Do kháng cáo của bà Ú được chấp nhận nên bà Ú không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[5] Phát biểu của Trợ giúp viên bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn không phù hợp với nhận định trên nên không chấp nhận.
[6] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long không phù hợp với nhận định trên nên không chấp nhận.
[NGUỒN: BẢN ÁN SỐ 425/2026/DS-PT NGÀY 24/4/2026 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG]
LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 425/2026/DS-PT
………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn