
Việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn ngày càng phổ biến trong đời sống xã hội hiện đại. Nhiều cặp đôi lựa chọn chung sống trước khi cưới, hoặc vì những lý do cá nhân, gia đình hay điều kiện pháp lý mà không thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định. Tuy nhiên, khi mối quan hệ chấm dứt, tranh chấp về tài sản, nợ chung, quyền lợi của con chung… thường phát sinh và trở nên phức tạp. Pháp luật Việt Nam có cơ chế xử lý riêng biệt cho nhóm quan hệ này, khác hoàn toàn với quan hệ hôn nhân hợp pháp. Bài viết dưới đây phân tích toàn diện các vấn đề pháp lý liên quan đến tài sản của nam, nữ sống chung như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, dựa trên nền tảng pháp luật hiện hành và thực tiễn xét xử.
- Quy định của pháp luật
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 ngoài việc ghi nhận kết hôn, quan hệ giữa vợ, chồng, quan hệ giữa cha, mẹ và con, quan hệ giữa các thành viên khác của gia đình, việc cấp dưỡng,… còn quy định việc giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Theo đó, khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.”.
Đối chiếu với quy định trên, việc chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn sẽ không được pháp luật thừa nhận mối quan hệ vợ chồng; không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Do đó, việc giải quyết hậu quả về tài sản khi nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn giải quyết theo quy định tại Điều 16 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cụ thể:
“1. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.”.
Như vậy, trường hợp nam nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống như vợ chồng thì không làm phát sinh quan hệ vợ chồng nên không có quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng. Quan hệ tài sản sẽ được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Dân sự năm 2015, sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ thể đối với tài sản, sở hữu chung bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất. Điều 219 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về chia tài sản thuộc hình thức sở hữu chung như sau:
“1. Trong trường hợp sở hữu chung có thể phân chia thì mỗi chủ sở hữu chung đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung; nếu các chủ sở hữu chung đã thoả thuận không phân chia tài sản chung trong một thời hạn thì mỗi chủ sở hữu chung chỉ có quyền yêu cầu chia tài sản chung khi hết thời hạn đó; khi tài sản chung không thể chia được bằng hiện vật thì được trị giá thành tiền để chia.
2.Trong trường hợp có người yêu cầu một người trong số các chủ sở hữu chung thực hiện nghĩa vụ thanh toán khi người đó không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thanh toán thì người yêu cầu có quyền yêu cầu chia tài sản chung để nhận tiền thanh toán và được tham gia vào việc chia tài sản chung, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Nếu không thể chia phần quyền sở hữu bằng hiện vật hoặc việc chia này bị các chủ sở hữu chung còn lại phản đối thì người có quyền có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ bán phần quyền sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ thanh toán.”.
Bên cạnh đó, tại khoản 4 Điều 3 của Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn (không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn hay không) và có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý, giải quyết và áp dụng Điều 9 và Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ. Nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật hôn nhân và gia đình.”.
Như vậy, đối với trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn thì khi phát sinh yêu cầu giải quyết về chia tài sản thì: (i) Tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc về người đó; (ii) Tài sản chung được chia theo thỏa thuận của các bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án căn cứ quy định của Bộ luật Dân sự về chia tài sản chung để giải quyết trong trường hợp này. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.
- Thực tiễn xét xử
Liên quan đến vấn đề này, thực tiễn xét xử có Bản án số 06/2018/HNGĐ-ST của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau về vụ việc anh N và chị T chung sống từ năm 2012 đến 2017 nhưng không đăng ký kết hôn. Hai bên có nhiều tài sản: nhà, đất, xe SH và tài sản sinh hoạt. Tòa án xác định quan hệ này không phải quan hệ vợ chồng hợp pháp và chỉ giải quyết con chung, tài sản theo Điều 16 Luật HN&GĐ. Sau khi xem xét chứng cứ, Tòa xác định nhà đất là tài sản riêng của chị T do có giấy tờ chứng minh nguồn gốc tặng cho; xe SH là tài sản riêng của anh N vì anh đứng tên và chị không có chứng cứ đóng góp; các tài sản sinh hoạt được xem là tài sản chung vì hình thành trong thời gian chung sống, phục vụ đời sống gia đình. Vì các bên không chứng minh được tỷ lệ đóng góp, Tòa áp dụng Điều 208 BLDS để chia đôi giá trị tài sản. Cách giải quyết này cho thấy Tòa tôn trọng danh nghĩa sở hữu nhưng vẫn bảo đảm công bằng đối với tài sản phục vụ đời sống chung.
Một bản án khác minh họa cách Tòa đánh giá công sức đóng góp và yếu tố nội trợ, cụ thể tại Bản án số 54/2020/HNGĐ-ST của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, Cần Thơ. Trong vụ án, anh L và chị H chung sống từ 2013, có một con chung nhưng không đăng ký kết hôn. Căn nhà hai người đang ở được mua gần 1,4 tỷ đồng và đứng tên duy nhất chị H. Anh L cho rằng mình góp 60% giá trị. Quá trình xác minh cho thấy anh L có đóng góp một phần, nhưng phần lớn giá trị nhà do chị H vay và thanh toán. Tòa án nhận định anh L có đóng góp về tài chính, công sức sửa chữa nhà và chăm sóc gia đình; do đó, dù tài sản đứng tên chị H, vẫn coi đây là tài sản chung theo phần. Cuối cùng, Tòa chia chị H 70%, anh L 30%. Cách chia này phản ánh sự cân bằng giữa quyền sở hữu và nguyên tắc xem xét công sức nội trợ theo khoản 2 Điều 16 Luật HN&GĐ.
Từ các bản án trên có thể thấy phương pháp tiếp cận của Tòa án mang tính “lai”: vừa tuân thủ nguyên tắc sở hữu tài sản của BLDS, vừa vận dụng quy định về bảo vệ người yếu thế trong quan hệ chung sống. Điều 16 Luật HN&GĐ không tạo ra chế độ tài sản chung giống chế độ tài sản vợ chồng, nhưng cũng không thuần túy dựa trên quyền sở hữu ghi trên giấy tờ. Tính chất đặc thù này đặt ra yêu cầu Tòa án phải đánh giá toàn diện quan hệ chung sống: thời gian chung sống, thu nhập của mỗi bên, mức độ đóng góp, ai là người chăm lo gia đình, ai là người trực tiếp trả nợ hay tạo lập tài sản.
Việc đánh giá công sức nội trợ, tuy được luật ghi nhận, nhưng thực tế lại thiếu tiêu chí định lượng cụ thể. Điều này dẫn đến sự không đồng đều trong xét xử giữa các Tòa. Một số Tòa chia theo hướng 50/50 nếu thấy quan hệ gắn bó lâu dài; một số khác phân chia theo tỷ lệ 70/30 hoặc 80/20 tùy mức độ chứng minh. Điều này đặt ra nhu cầu hướng dẫn chi tiết hơn hoặc ban hành án lệ nhằm tạo sự thống nhất.
Xét tổng thể, pháp luật Việt Nam đã thiết lập một cơ chế hợp lý cho việc giải quyết tài sản khi nam, nữ sống chung như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Cơ chế này vừa bảo vệ tính hợp pháp của chế định hôn nhân, vừa đảm bảo công bằng cho người yếu thế. Tuy nhiên, để hạn chế tranh chấp, các bên cần ý thức rõ quyền lợi của mình và chủ động lập thỏa thuận, lưu giữ chứng cứ về đóng góp ngay từ khi tạo lập tài sản. Về phía cơ quan tố tụng, việc tiếp tục tổng hợp thực tiễn, ban hành án lệ và hướng dẫn thống nhất sẽ góp phần tạo cơ sở áp dụng pháp luật rõ ràng, minh bạch hơn trong tương lai.
………………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn