NHẬN ĐỊNH CỦA ỦY BAN THẨM PHÁN TÒA ÁN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI:
[1] Ngày 09/11/2008, ông Nguyễn Xuân Đ và Công ty trách nhiệm hữu hạn A (sau đây gọi tắt là Công ty A) ký Biên bản góp vốn, theo đó Công ty A góp 70%, ông Đ góp 30% trên tổng số vốn xây dựng để xây dựng xưởng sản xuất xi măng trắng tại Hải Phòng; việc chia lợi nhuận dựa trên vốn góp và được hạch toán 01 tháng/lần sau khi đối chiếu số liệu sổ sách kế toán. Quá trình thực hiện hợp đồng, theo trình bày của ông Đ thì ông đã góp vốn theo đúng thỏa thuận với số tiền 4.191.925.100 đồng (theo các phiếu thu đề ngày 09/11/2008, 30/3/2009, 28/8/2009, 22/9/2009 và Bảng tổng hợp số tiền ông Đ đã chi mua vật tư xây dựng xưởng nghiền xi măng có xác nhận của Công ty A) và đã được Công ty A thừa nhận. Thực tế, xưởng sản xuất đã được xây dựng, đưa vào hoạt động, ông Đ cũng đã được chia một phần lợi nhuận. Đến năm 2010 thì phát sinh tranh chấp giữa hai bên, theo ông Đ trình bày do Công ty A không đồng ý ghi nhận phần vốn góp của ông trên giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nên ông đề nghị được rút vốn và hai bên đã lập Biên bản thỏa thuận góp vốn kiêm giấy chứng nhận góp vốn ngày 30/8/2010, với nội dung: ông Nguyễn Xuân Đ góp 30% vốn vào Công ty A (số tiền 4.191.925.100 đồng); lãi suất 1,5%/tháng tính từ ngày 30/8/2010 cho đến khi ông Đ nhận lại được số tiền gốc và lãi đã góp. Công ty A không thực hiện thỏa thuận trên nên ông Đ đã khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty A phải trả lại tiền, vốn góp và lãi suất cho ông. Còn Công ty A cho rằng Biên bản thỏa thuận ngày 30/8/2010 là giả mạo và chỉ đồng ý trả lại ông Đ tiền vốn góp sau khi bán được xưởng sản xuất. Như vậy, giữa Công ty A và ông Đ tuy không ký hợp đồng chính thức, nhưng nội dung các điều khoản tại biên bản góp vốn và lời khai thừa nhận của hai bên đều thể hiện có việc ký kết và thực hiện giao dịch góp vốn xây dựng xưởng sản xuất xi măng trắng và phân chia lợi nhuận. Giao dịch được hai bên xác lập chính là hợp đồng hợp tác kinh doanh theo quy định tại Luật Đầu tư và
việc ký kết, thực hiện hợp đồng này là hợp pháp. Do đó, cần phải xác định về bản chất hai bên tranh chấp về khoản tiền bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn trong quá trình thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh theo quy định tại Luật Đầu tư. Quan hệ pháp luật có tranh chấp trong vụ án phải xác định là “Tranh chấp hợp đồng hợp tác kinh doanh”; việc xác lập và thực hiện hợp đồng đều vì mục đích lợi nhuận nên đây là vụ án kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại điểm m khoản 1 Điều 29 Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011.
[2] Về đường lối giải quyết đối với vụ án này, Tòa án cần phải đánh giá chính xác tính hợp pháp của Biên bản thỏa thuận góp vốn kiêm giấy chứng nhận góp vốn ngày 30/8/2010, nếu biên bản này là hợp pháp, phản ánh đúng ý chí của các bên đương sự thì xác định đây là thỏa thuận mới trong việc thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh năm 2008. Còn nếu biên bản này không hợp pháp thì Tòa án cần thu thập các tài liệu, chứng cứ có liên quan, đồng thời căn cứ vào thỏa thuận giữa hai bên về việc phân chia lợi nhuận cũng như trách nhiệm chịu rủi ro trong kinh doanh và áp dụng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư để giải quyết thỏa đáng quyền, lợi ích hợp pháp cho của các bên đương sự. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định Biên bản thỏa thuận góp vốn kiêm Giấy chứng nhận góp vốn ngày 30/8/2010 là hợp pháp và căn cứ vào nội dung biên bản này để xác định hai bên thống nhất khoản tiền đầu tư của ông Đ là khoản vay của Công ty A; xác định quan hệ pháp luật có tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng dân sự” và áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự 2005 (các Điều 280, 290, 471, 474, 476) để giải quyết vụ án là không đúng với bản chất của vụ án, có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật. Còn Tòa án cấp phúc thẩm nhận định Biên bản thỏa thuận góp vốn kiêm Giấy chứng nhận góp vốn ngày 30/8/2010 không được lập trên cơ sở tự nguyện của hai bên nên không hợp pháp để quyết định không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Biên bản thỏa thuận góp vốn kiêm chứng nhận góp vốn ngày 30/8/2010, đồng thời có nhận định về quan hệ góp vốn giữa hai bên “nếu hai bên có yêu cầu sẽ được thụ lý giải quyết theo thẩm quyền bằng vụ án khác” cũng là không đúng pháp luật, không đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho các đương sự.
Quyết định giám đốc thẩm Số: 105/2017/DS-GĐT