Feel free to go with the truth

Trang chủ / Nghiên cứu học tập / CHỨNG NHẬN HALAL – NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ TIÊU CHUẨN, ĐIỀU KIỆN ĐỂ CÔNG NHẬN THỰC PHẨM CHUẨN HỒI GIÁO

CHỨNG NHẬN HALAL – NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ TIÊU CHUẨN, ĐIỀU KIỆN ĐỂ CÔNG NHẬN THỰC PHẨM CHUẨN HỒI GIÁO

Hệ thống pháp luật Hồi giáo có quan hệ mật thiết với đạo Hồi, bao gồm các đạo luật mang đậm màu sắc tín ngưỡng được thể hiện trong Kinh Cô-ran. Pháp luật Hồi giáo là những lời răn dạy của thánh Allah, được thương gia Mohammed truyền thụ cho người đời. Chính vì vậy, pháp luật Hồi giáo không chỉ là những giáo lý về đạo đức tối thiểu, mà còn là những quy tắc cuộc sống do thánh Allah khuyên dạy mà người Hồi giáo buộc phải tuân theo.

Một trong số những quy định đặc biệt của Hồi giáo chính là ăn kiêng và thức ăn phải được chế biến theo một quy trình riêng biệt. Những quy định khắt khe về chế biến thực phẩm trong pháp luật Hồi giáo không chỉ là quy chuẩn về an toàn vệ sinh mà còn là lời phán xét của thánh Allah. Để tiêu chuẩn hóa và đo lường sự tuân thủ của các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất và chế biến thực phẩm, các quốc gia Hồi giáo đang sử dụng Chứng nhận Halal như một hành lang pháp lý vững chắc để kiểm soát nguyên phụ liệu và quy trình chế biến thức ăn.

1. Chứng nhận Halal là gì?

Dấu chứng nhận Halal – chứng nhận tiêu chuẩn của pháp luật Hồi giáo đối với dịch vụ chế biến và cung cấp thực phẩm, lương thực

“Halal” là một từ có nguồn gốc từ Ả Rập, có nghĩa là “cho phép hoặc hợp pháp”, nó bao hàm mọi lĩnh vực và khía cạnh trong đời sống của người dân đạo Hồi[1]. Theo Kinh Cô-ran của người Hồi Giáo, “Halal” trái nghĩa với “Haram”, có nghĩa là “bị cấm, trái luật, không được phép”[2].  Trong đó, Haram là mức độ phán xét cao nhất đối với một hành vi, theo thứ tự là Fard (Bắt buộc), Mustahabb (khuyến nghị), Mubah (Trung lập), Makruh (khiển trách), và Haram (Bị cấm).

Đối với ngành dịch vụ chế biến và phục vụ thực phẩm, Halal được xem là tiêu chuẩn cao nhất và được áp dụng một cách rộng rãi. Nó liên quan đến luật ăn kiêng của người Hồi giáo và cũng là tiêu chuẩn đánh giá thực phẩm có được chế biến với các nguyên liệu và quy trình phù hợp với quy định pháp luật Hồi giáo hay không (Tiêu chuẩn Halal). Như vậy, hiểu một cách đơn giản nhất, Chứng nhận Halal là một căn cứ chứng minh sự phù hợp với quy định pháp luật Hồi giáo và tiêu chuẩn Halal đối với các cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm[3]. Hiện nay, tại Việt Nam, quy trình cấp Chứng nhận Halal dựa vào các tiêu chuẩn như: ISO/IEC 17065, ISO/IEC 17021-1, FDA 12, MS 1500:2019, UAE.S 2055-1:2015, HAS 23000:1…

Sau khi được chứng nhận Halal, các cơ sở sản xuất và chế biến lương thực, thực phẩm sẽ được dán dấu chứng nhận Halal trên bao bì sản phẩm của mình. Dấu chứng nhận Halal là dấu hiệu nhận biết cơ sở đã đạt tiêu chuẩn Halal với các sản phẩm và quy trình chế biến được kiểm định nghiêm ngặt. Tổng thể dấu Halal có hình tròn, màu xanh đậm trên nền trắng, ở chính giữa là chữ “HALAL” bằng tiếng Latinh và tiếng Ả-rập, kích cỡ linh hoạt theo kích thước bao bì sản phẩm.

2. Quy định về tổ chức, hoạt động của Cơ quan kiểm nghiệm Halal và quy định về các điều kiện cơ bản của Tiêu chuẩn Halal

2.1. Quy định về tổ chức, hoạt động của các Cơ quan kiểm nghiệm Halal

– Quy định của pháp luật các quốc gia Hồi giáo

Mỗi quốc gia Hồi giáo sẽ có những quy định riêng biệt về cơ chế thành lập, tổ chức và hoạt động của các cơ quan chứng nhận thực phẩm Halal (Halal Examination Agency – Cơ quan kiểm nghiệm Halal). Dưới dây là quy định pháp luật của một số quốc gia Hồi giáo về chế độ thành lập và điều kiện hoạt động của Cơ quan kiểm nghiệm Halal.

Malaysia:

Malaysia là một trong những quốc gia có quy định chặt chẽ và đầy đủ nhất về Chứng nhận Halal. Khác với một số quốc gia Hồi giáo khác trên thế giới, Chứng nhận Halal ở Malaysia được phê duyệt và cấp bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền như JAKIM(Cục Phát triển Hồi giáo Malaysia) là cơ quan có thẩm quyền và chịu trách nhiệm đối với các hoạt động liên quan đến Hồi giáo nói chung và Chứng nhận Halal nói riêng ở Malaysia, HDC (Tập đoàn phát triển công nghiệp Halal), DOC (Cục Hóa học)…

Cơ quan chứng nhận Halal được quy định rải rác trong nhiều văn bản pháp luật có liên quan của Malaysia như Luật Định nghĩa về Thương mại 2011, Luật Định nghĩa về Thương mại và Thực phẩm 1993, Luật Thực phẩm 1983, Luật Hải quan 1967, Luật Động vật 1953 (sửa đổi năm 2006)… và các tiêu chuẩn, quy chuẩn về Halal như MS 1500:2019, EN 2200-1: 2008 Tiêu thụ sản phẩm Hồi Giáo…

Cộng Hòa Indonesia:

Các quy định về điều kiện thành lập và tiêu chuẩn đối với Cơ quan kiểm nghiệm Halal được thể hiện tại Điều 12 đến Điều 16 của Luật Đảm bảo Halal, được thông qua bởi Chủ tịch Cộng Hòa Indonesia (Luật số 33/2014). Cụ thể:

Điều 12: Cơ quan kiểm nghiệm Halal là cơ quan công lập hoặc tư nhân. Cơ quan kiểm nghiệm Halal có quyền kiểm tra, xét nghiệm tính Halal của sản phẩm.

Điều 13: Điều kiện đối với Cơ quan kiểm nghiệm Halal:

– Có văn phòng hoạt động và trang thiết bị phù hợp.

– Được BPJPH (Halal Product Assurance Organizing Agency – Cơ quan tổ chức việc đảm bảo sản phẩm Halal) chứng nhận.

– Có tối thiểu 3 (ba) Chuyên gia đánh giá Halal.

– Có phòng kiểm nghiệm hoặc thỏa thuận hợp tác với các tổ chức khác sở hữu phòng kiểm nghiệm.

Ngoài ra, Luật số 33/2014 còn quy định về điều kiện, chức năng, nhiệm vụ của các chuyên gia đánh giá Halal.

Như vậy, có thể thấy rằng, Cơ quan kiểm nghiệm Halal được thành lập theo pháp luật Cộng Hòa Indonesia có thể là cơ quan nhà nước hoặc tổ chức tư nhân và luật cũng quy định những yêu cầu nhất định để cơ quan này có thể được cấp phép hoạt động.

Pakistan:

Các quy định về Cơ quan kiểm nghiệm Halal tại Pakistan được thể hiện tại Đạo Luật số VIII năm 2016 về việc thành lập Cơ quan Halal Pakistan để thúc đẩy thương mại và mậu dịch. Cụ thể, việc thành lập và chế độ hoạt động của Cơ quan kiểm nghiệm Halal được thể hiện tại Điều 3 của Đạo Luật.

“(1) Chính phủ có thẩm quyền, bằng cách thông báo trên Công báo, thành lập Cơ quan Halal Pakistan (gọi tắt là “Cơ quan”[4]) để thực hiện các mục đích của Đạo luật này.

(2) Cơ quan sẽ là một pháp nhân có sự kế thừa vĩnh viễn và có con dấu chung, có quyền hạn, theo các quy định của Đạo luật này, để nhận chuyển nhượng và nắm giữ tài sản, cả động sản và bất động sản, và có quyền tham gia tố tụng.

(3) Trụ sở chính của Cơ quan sẽ đặt tại Islamabad và với sự chấp thuận trước của Chính phủ, có thể đặt văn phòng ở những nơi khác, theo thời gian và địa điểm được yêu cầu”.

Như vậy, cũng giống Malaysia, Cơ quan kiểm nghiệm Halal tại Pakistan là một cơ quan được thành lập, được điều hành hoạt động bởi Chính phủ.

– Quy định của pháp luật Việt Nam về Cơ quan kiểm nghiệm Halal tại Việt Nam

Tại Việt Nam, Cơ quan kiểm nghiệm Halal không phải là cơ quan thuộc chính phủ, mà là tổ chức tư nhân được các tổ chức Halal trên thế giới như JAKIM (Malaysia), GCC Accredittation Center (GAC), ESMA (UAE) , MUIS(Singapore), CICOT (Thái Lan), KFDA (Hàn Quốc)…  công nhận chức năng và thẩm quyền kiểm nghiệm, cấp chứng chỉ Halal tại Việt Nam.

Hiện nay, các Cơ quan kiểm nghiệm Halal được thành lập và hoạt động tại Việt Nam với hình thức là tổ chức kinh tế (doanh nghiệp). Một số Cơ quan kiểm nghiệm Halal uy tín và hoạt động lâu năm trong lĩnh vực tư vấn, chứng nhận Halal và cấp Giấy chứng nhận Halal có thể kể đến như:

– Công Ty TNHH Văn Phòng Chứng Nhận Halal (Halal Certification Agency Company Limited): Loại hình pháp lý là Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, có mã số doanh nghiệp là 0102418678, ngành nghề hoạt động chính là 7490: Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ khác chưa được phân vào đâu (Chi tiết: Dịch vụ đánh giá sự phù hợp và cấp chứng chỉ Halal; Đào tạo, quản lý, tiêu chuẩn hoá, năng suất chất lượng; Dịch vụ đánh giá hợp chuẩn, đánh giá hợp quy, quy chuẩn kỹ thuật sản phẩm; Dịch vụ đánh giá các hệ thống quản lý, đánh giá và chứng nhận sự phù hợp).

– Công Ty TNHH Vietnam Halal Center (Vietnam Halal Center Company Limited): Loại hình pháp lý là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, có mã số doanh nghiệp là 0315763661, ngành nghề hoạt động chính là 7020: Hoạt động tư vấn quản lý (Chi tiết: tư vấn chứng nhận Halal, hoạt động tư vấn quản lý (trừ tư vấn tài chính, kế toán, pháp lý)).

– Công Ty TNHH Kiểm Định Và Chứng Nhận Halal Việt Nam (Viet Nam Halal Inspection And Certification Company Limited): Loại hình pháp lý là Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, mã số doanh nghiệp là 0316149831, ngành nghề hoạt động chính là 7020: Hoạt động tư vấn quản lý.

Theo quy định tại Phụ lục 4, Luật Đầu tư 2014 về danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, Kinh doanh dịch vụ chứng nhận và công bố hợp quy (mục 78) là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện.  Như vậy, muốn thực hiện hoạt động kinh doanh tại Việt Nam một cách hợp pháp, doanh nghiệp chứng nhận Halal cần phải đáp ứng điều kiện về giấy phép hoạt động.

Là tổ chức hoạt động trong lĩnh vực kiểm nghiệm, chứng nhận, nhưng do đặc thù về luật áp dụng, Cơ quan kiểm nghiệm Halal không những chịu sự quản lý của các cơ quan đăng ký doanh nghiệp, đầu tư mà còn phải tuân thủ các quy định của Ban Tôn giáo Chính phủ. Theo Quyết định số 32/2018/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Tôn giáo Chính phủ trực thuộc Bộ Nội vụ, Ban Tôn giáo Chính phủ có quyền và trách nhiệm: “Tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, chiến lược, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án về tín ngưỡng, tôn giáo hoặc có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo sau khi được cấp có thẩm quyền ban hành hoặc phê duyệt.” Như vậy, Ban Tôn giáo Chính phủ là cơ quan có thẩm quyền cũng như trách nhiệm phê duyệt các đề án, chương trình hoạt động của Cơ quan kiểm nghiệm Halal. Bên cạnh đó, để tăng tính uy tín trên thị trường cũng như để Giấy chứng nhận Halal được công nhận ở các quốc gia Hồi giáo, các Cơ quan kiểm nghiệm Halal phải được các tổ chức Halal trên thế giới công nhận.

2.2. Quy định về các điều kiện cơ bản của tiêu chuẩn Halal:

Quy định về tiêu chuẩn thực phẩm Halal được thể hiện tại các văn bản quy phạm pháp luật của các quốc gia Hồi giáo. Nhìn chung, các văn bản pháp luật tại các quốc gia Hồi giáo khác nhau lại có sự tương đồng về nội dung, vì các quy định này đều dựa trên những nguyên tắc cơ bản nhất của giáo lý Đạo Hồi, tiêu biểu là Tiêu Chuẩn Thực phẩm Halal của các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất UAE.S 2055-1:2015, Tiêu Chuẩn Halal Malaysia MS 1500:2019.

Như đã trình bày ở phần 1, các nguyên liệu và phụ gia, hóa chất mang tính “Haram” sẽ bị xem là không đạt yêu cầu của Tiêu chuẩn Halal[5]:

  • Lợn (heo), chó và các sản phẩm khác lấy từ thịt lợn (heo), chó.
  • Động vật có móng vuốt và răng nanh như sư tử, hổ, gấu, rắn, khỉ và các loài động vật tương tự.
  • Loài chim săn mồi có móng vuốt như đại bàng, kền kền, và các loài chim tương tự.
  • Vật gây hại như chuột, rết, bọ cạp và động vật tương tự khác.
  • Động vật cấm bị giết trong đạo Hồi: kiến, ong, chim gõ kiến.
  • Động vật được coi là bẩn như chấy, ruồi, giòi và các động vật tương tự.
  • Động vật lưỡng cư (ếch, nhái, cóc…), động vật vừa có thể sống trên cạn, vừa có thể sống dưới nước (rắn, cá sấu…)
  • Con la và con lừa.
  • Tất cả các chất độc hại và loài thuỷ sản nguy hiểm.
  • Tất cả các loài động vật mà quy trình giết mổ không tuân thủ theo luật Hồi giáo.
  • Động vật chết vì nghẹt thở, bị đập vào đầu, bị rơi, bị tấn công bởi động vật khác.
  • Máu.
  • Bộ phận cơ thể con người hoặc một phần bộ phận cơ thể người, nhau thai.
  • Tất cả các chất thải lỏng và rắn từ con người và động vật: nước tiểu, phân, chất nôn, mủ…
  • Chất gây nghiện, thực vật nguy hại, trừ trường hợp các độc tố hoặc mối nguy hiểm có thể được loại bỏ trong quá trình chế biến.
  • Đồ uống có cồn (bia, rượu và rượu mạnh)
  • Tất cả các loại đồ uống gây say và nguy hại.
  • Tất cả các phụ gia thực phẩm có nguồn gốc từ các chất liệt kê trên.
  • Bất kỳ hóa chất độc hại, nguy hiểm hoặc khoáng chất thiên nhiên.

Ngoài ra, có một số chất, phụ gia hay nguyên liệu mang tính “nghi ngờ” – Mashbooh. Có nghĩa là, khó có thể xác định được liệu thành phần đó có phải là “Haram” hay có yếu tố Haram hay không. Một số chất phụ gia và hóa chất như men, chất nhũ hóa, gelatine… có thể bắt nguồn từ động vật hoặc thực vật, và việc xác định liệu động vật hay thực vật làm nên chất này có “Halal” hay không là một vấn đề không hề đơn giản. Đối với động vật, có thể quá trình giết mổ đã không tuân thủ theo nghi lễ Hồi giáo hoặc có chứa chất Haram. Điều này đòi hỏi các cơ quan chứng nhận Halal phải giám sát quá trình giết mổ và kiểm nghiệm chất lượng nguyên liệu, phụ gia và hóa chất rất nghiêm ngặt.

2.3. Điều kiện về quy trình giết mổ động vật và sản xuất, chế biến lương thực, thực phẩm

Theo quan điểm của người Hồi giáo, việc giết mổ động vật cần phải tuân thủ Kinh Cô-ran với những lễ nghi, tập tục lâu đời. Theo đó, con vật phải được giết mổ theo cách nhân đạo nhất, nhanh chóng để tránh khỏi đau đớn kéo dài. Chúng cũng cần được cầu nguyện và quay mặt về hướng người Hồi giáo cầu nguyện để được giải thoát và đi theo ánh sáng của thánh Allah[6].

Trước khi bị giết, con vật phải còn sống và có dấu hiệu sinh tồn. Người giết mổ cần phải gây ngất con vật, để chúng không cảm thấy đau đớn. Tuy nhiên, việc gây ngất bằng các phương pháp gây đau đớn như đánh đập, chích điện… là hành vi bị nghiêm cấm. Việc giết mổ phải được thực hiện bởi những người hoàn toàn tỉnh táo, không bị hạn chế năng lực nhận thức và hành vi. Dụng cụ giết mổ phải sắc bén, để đảm bảo quá trình giết mổ diễn ra nhanh chóng, ít gây chảy máu và đau đớn kéo dài cho con vật. Việc mài dao trước mặt con vật là hành vi vô nhân đạo và bị nghiêm cấm, quá trình giết mổ không được diễn ra trước mặt đồng loại của chúng và những con vật khác[7].

Bên cạnh những quy định mang tính chất tính ngưỡng của người dân Hồi giáo, quá trình sản xuất và chế biến thực phẩm Halal cũng phải đảm bảo nghiêm ngặt các quy định về an toàn, vệ sinh thực phẩm, để bảo vệ sức khỏe của người tiêu dùng.

Theo đó, cơ sở sản xuất, chế biến thức ăn cần được đảm bảo tách biệt giữa nguyên phụ liệu Halal và không Halal và cần được giữ vệ sinh khỏi những chất “dơ bẩn” trong suốt quá trình chế biến. Những người và dụng cụ chế biến thực phẩm Halal sẽ không được chế biến hoặc dùng để chế biến thực phẩm không Halal và ngược lại. Để thực hiện điều này, một hệ thống mã màu cần được ban hành và sử dụng trên các dụng cụ một cách thống nhất để tránh gây nhầm lẫn [8].

Bên cạnh đó, các tiêu chuẩn Halal cũng quy định rất nghiêm ngặt về vấn đề vệ sinh cá nhân và theo dõi sức khỏe đối với người trực tiếp tham gia sản xuất, chế biến thực phẩm. Những người này phải được khám sức khỏe định kỳ, hồ sơ sức khỏe luôn được lưu trữ và theo dõi. Cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm phải thường xuyên tổ chức các đợt đào tạo, huấn luyện kiến thức về an toàn, vệ sinh thực phẩm đối với người trực tiếp tham gia vào quá trình chế biến, sản xuất[9]. Việc rửa tay và khử trùng trước khi vào khu vực sản xuất là bắt buộc, để tránh các chất bẩn bám vào thức ăn và gây ngộ độc, cũng tránh để thức ăn bị “nhiễm bẩn” theo quan niệm tín ngưỡng[10].

Ngoài ra, cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm còn phải thực hiện nghiêm ngặt quy trình đóng gói và phân phối sản phẩm, đảm bảo môi trường sản xuất luôn sạch sẽ, vệ sinh.

3. Thực tiễn việc áp dụng các quy định về Chứng nhận Halal tại Việt Nam

3.1. Quy trình cấp Chứng nhận Halal tại Việt Nam

Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có hướng dẫn cụ thể về quy trình cấp Chứng nhận Halal. Pháp luật của các quốc gia Hồi giáo cũng không có sự đồng nhất về quy trình kiểm nghiệm, kiểm định để cấp Chứng nhận Halal. Vì vậy, tùy theo từng thị trường xuất khẩu, Cơ quan kiểm nghiệm Halal sẽ áp dụng theo quy trình riêng biệt của các quốc gia Hồi giáo về việc kiểm nghiệm, kiểm tra và cấp Chứng nhận Halal.

Theo đó, có 3 chương trình cấp Chứng nhận Halal được áp dụng phổ biến tại Việt Nam như: Chương trình JAKIM (Có giá trị xuất khẩu sang tất cả các quốc gia Hồi giáo, trừ Indonesia và GCC[11]), chương trình GCC (Chỉ áp dụng cho các quốc gia GCC), Chương trình MUI (Có giá trị xuất khẩu sang tất cả các quốc gia Hồi giáo, trừ Malaysia và GCC). Quy trình đánh giá Halal theo mỗi chương trình đều có sự tương đồng nhất định, cụ thể như sau:

Bước 1: Nộp hồ sơ đến tổ chức có thẩm quyền cấp chứng nhận.

Bước 2: Xem xét thẩm định về mặt hồ sơ và ngay tại hiện trường sản xuất.

Bước 3: Nhận kết quả là Giấy chứng nhận hoặc thông báo về việc từ chối cấp chứng nhận.

Như vậy, các doanh nghiệp sản xuất thực phẩm Halal phải nhắm đến một thị trường tiêu thụ cụ thể trước khi tiến hành quy trình đánh giá, kiểm nghiệm và xin cấp Chứng nhận Halal.

3.2. Thực tiễn áp dụng các quy định về chứng nhận Halal tại Việt nam

Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có các quy định cụ thể về việc cấp, cấp lại, thu hồi Chứng nhận Halal và các cơ chế xử lý vi phạm trong lĩnh vực này. Điều này về cơ bản có thể được lý giải như sau:

– Hệ thống pháp luật Việt Nam đã có những văn bản quy định tính chuẩn mực về bao bì, thành phần, xuất xứ và điều kiện sản xuất để sản phẩm được lưu thông trên thị trường và việc áp dụng chế tài cũng dựa trên các quy định pháp luật Việt Nam. Một số văn bản pháp luật đang có hiệu lực có thể kể đến như: Luật An toàn thực phẩm 2010, Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007, Nghị định 15/2018/NĐ-CP hướng dẫn Luật an toàn thực phẩm, Nghị định 115/2018/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm, Thông tư 38/2018/TT-BNNPTNT quy định về thẩm định, chứng nhận cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nông, lâm, thủy sản đủ điều kiện an toàn thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Thông tư 23/2018/TT-BYT quy định về thu hồi và xử lý thực phẩm không bảo đảm an toàn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Y tế, Thông tư liên tịch 20/2013/TTLT-BYT-BCT-BNNPTNT quy định điều kiện, trình tự thủ tục chỉ định cơ sở kiểm nghiệm thực phẩm phục vụ quản lý nhà nước do Bộ Y tế – Bộ Công thương – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành, Công văn 5845/BCT-KHCN năm 2013 hướng dẫn thực hiện Luật An toàn thực phẩm do Bộ Công Thương ban hành… Nhứng văn bản pháp luật trên có tính áp dụng thực tiễn trên thị trường trong nước, phù hợp với tập quán kinh doanh, thương mại cũng như thói quen tiêu dùng của người dân.

– Các tiêu chuẩn áp dụng trong các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành cũng phù hợp với các hướng dẫn của WHO (Tổ chức y tế thế giới) về an toàn, vệ sinh trong sản xuất thực phẩm. Cụ thể, năm quy tắc đảm bảo an toàn thực phẩm do WHO ban hành bao gồm: (i) Giữ vệ sinh sạch sẽ; (ii) Tách biệt nguyên liệu sống và thực phẩm chín; (iii) Ăn chín uống sôi; (iv) Bảo quản thực phẩm ở nhiệt độ phù hợp; và (v) Sử dụng nước sạch và nguyên phụ liệu an toàn[12]. Bên cạnh đó, WHO cũng ban hành Luật hướng dẫn về An toàn thực phẩm và thực dưỡng, bao gồm các định nghĩa, điều kiện và tiêu chuẩn áp dụng, bao gồm tiêu chuẩn thông thường và tiêu chuẩn bắt buộc, đối với việc quản lý an toàn về thực phẩm, thực dưỡng.

– Một số quy định đặc thù về Halal khó có thể áp dụng bắt buộc tại Việt Nam, xuất phát từ sự khác biệt về quan điểm tín ngưỡng và sự bất đồng về quan niệm đạo đức. Ví dụ, theo các quốc gia Hồi giáo, việc giết thịt heo và chó được xem là hành vi vi phạm lời dạy của thánh Allah, cũng là hành vi vi phạm pháp luật. Trong khi đó, hành vi này không bị xem là vi phạm đạo đức đối với người Việt Nam, vì vậy, không thể thanh lập những quy phạm pháp luật để hạn chế, ngăn cấm đối với hành vi này, và những hành vi tương tự. Mặt khác, không thể áp đặt các quan điểm tín ngưỡng của một tôn giáo lên đại bộ phận người dân, trong đó có những người thuộc Công Giáo, Phật Giáo, Cao Đài Giáo… thậm chí là những người “vô thần”.

– Việc áp dụng tiêu chuẩn Halal mang tính chất tự nguyện, tùy theo nhu cầu kinh doanh và thị trường tiêu thụ sản phẩm, về bản chất, Chứng nhận Halal là một tấm giấy thông hành để sản phẩm được phép nhập khẩu và lưu thông trên thị trường các quốc gia Hồi giáo, vì vậy, các quy định về tiêu chuẩn cũng như chế tài đối với sản phẩm Halal thường được điều chỉnh bởi các quốc gia nhập khẩu.

Như vậy, có thể thấy việc áp dụng các tiêu chuẩn Halal không phải là điều kiện bắt buộc đối với sản phẩm tiêu thụ trong nước. Bên cạnh đó, tiêu chuẩn Halal cũng không được xem là mang tính phổ biến trong toàn thể cộng đồng người dân Việt Nam, mà chỉ có ý nghĩa về giá trị quan và tính pháp lý đối với người dân Hồi giáo. Vì vậy, về mặt thực tiễn, các cơ sở kinh doanh thực phẩm trước tiên phải tuân thủ pháp luật Việt Nam về an toàn, vệ sinh thực phẩm, được cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện về vệ sinh, an toàn thực phẩm theo quy định pháp luật[13]. Sau đó, nếu có nhu cầu phục vụ đối tượng khách hàng là người Hồi giáo, xuất khẩu sang các thị trường Hồi giáo thì mới áp dụng các tiêu chuẩn và quy trình đánh giá Halal.

4. Những lợi ích của quy định Halal trong sản xuất, chế biến thực phẩm:

4.1. Đảm bảo an toàn, vệ sinh thực phẩm:

Tinh thần của các quy định pháp luật về thực phẩm Halal được thể hiện trong Kinh Cô – ran với những lời phán của thánh Allah. Theo đó, thực phẩm tốt và sạch sẽ mang lại cho con người sự nhẹ nhàng và thanh thản trong tâm hồn, đem lại lợi ích về sức khỏe.

“Những ai tuân theo Thiên sứ (Muhammad), một Nabi Ummi mà họ đã thấy ghi trong Kinh Taurah và Injil nơi họ – Người ra lệnh bảo họ làm điều lành và cấm cản họ làm điều dữ; Người cho phép họ dùng thực phẩm tốt và sạch và ngăn cấm họ dùng thực phẩm dơ bẩn; và Người tháo bớt gánh nặng của họ và giải thoát họ khỏi các gông cùm đang đè nén họ. Bởi thế, những ai tin tưởng nơi Người và ủng hộ Người và giúp đỡ Người và tuân theo ánh sáng đã được gởi xuống cùng với Người thì là những người sẽ thành đạt ” (Kinh Cô – ran, Al-Aa’raf: 157).

Tinh thần của các tiêu chuẩn Halal cũng được xem là phù hợp với các tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh thực phẩm của nhiều quốc gia trên thế giới, đó là cấm sử dụng các chất, hóa chất, phụ gia gây hại cho sức khỏe con người. Các tiêu chuẩn về thực phẩm Halal đã loại bỏ những phụ gia thực phẩm độc hại, chất gây nghiện, những loài thủy sản nguy hiểm, bộ phận cơ thể người, nhau thai… ra khỏi quy trình chế biến thức ăn. Chính vì vậy, áp dụng tiêu chuẩn Halal có thể loại bỏ những nguy cơ nhiễm độc từ thực phẩm, bảo vệ sức khỏe và tính mạng của người tiêu dùng.

Bên cạnh đó, quy trình chế biến thực phẩm Halal cũng đáp ứng được những tiêu chuẩn cơ bản về an toàn, vệ sinh thực phẩm trong pháp luật của các quốc gia trên thế giới. Những quy định sản xuất và chế biến thực phẩm Halal không chỉ mang màu sắc tín ngưỡng mà còn đem lại lợi ích thiết thực cho cơ sở sản xuất thực phẩm và người tiêu dùng, và được áp dụng không chỉ đối với các quốc gia Hồi giáo.

4.2. Lợi ích về kinh tế, thương mại, xuất – nhập khẩu:

Là một trong ba tôn giáo lớn nhất trên thế giới, Hồi Giáo có lượng tín đồ vô cùng đông đúc, không ngừng gia tăng và phân bố ở hầu hết các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới. Tại Việt Nam, mặc dù Hồi Giáo không phát triển như Thiên Chúa Giáo và Phật Giáo nhưng số lượng tín đồ Hồi Giáo vẫn gia tăng không ngừng và sắp chạm ngưỡng 100.000 người. Bên cạnh đó, số lượng người Hồi Giáo nhập cư vào Việt Nam cũng ngày càng tăng cao.

Chính vì vậy, nhu cầu tiêu thụ lương thực, thực phẩm Halal đang rất được quan tâm ở các nước Hồi giáo và cả những quốc gia, vùng lãnh thổ có người Hồi Giáo sinh sống, trong đó có Việt Nam. Nắm bắt được thị hiếu và tập quán của người Hồi Giáo, áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng Halal, và xây dưng chiến lược xuất khẩu đặc thù đối với các quốc gia Hồi Giáo, cũng là một phương án xóa bỏ ranh giới về văn hóa và kinh tế, tạo điều kiện để hợp tác quốc tế và đẩy mạnh xuất – nhập khẩu.

Bên cạnh đó, nên kinh tế thị trường ngày càng phát triển, ranh giới giữa các quốc gia đang dần được xóa mờ bởi sự hội nhập về văn hóa, kinh tế. Giấy chứng nhận Halal sẽ đóng vai trò như một chiếc chìa khóa giúp các doanh nghiệp xuất khẩu thực phẩm của Việt Nam gia nhập vào thị trường của các quốc gia Hồi giáo và những quốc gia, vùng lãnh thổ có người Hồi giáo. Chứng nhận Halal được tất cả các quốc gia Hồi giáo công nhận, vì vậy, nó có giá trị trên toàn thế giới, thúc đẩy lượng tiêu thụ sản phẩm tại các thị trường này.

5. Đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về Chứng nhận Halal

Hiện nay, nhu cầu đối với các sản phẩm được chứng nhận Halal ngày một gia tăng, theo sự hưng thịnh và phát triển của Hồi giáo và các quốc gia Hồi giáo. Tại Việt Nam, Cơ quan kiểm nghiệm Halal hoạt động với loại hình pháp lý là doanh nghiệp, được Ban Tôn giáo Chính phủ cấp phép hoạt động. Tuy nhiên, quy trình cấp, cấp lại giấy phép cũng như điều kiện cần đáp ứng về cơ sở vật chất, chứng chỉ thực hiện hoạt động kiểm nghiệm, xét nghiệm sản phẩm Halal, cơ chế báo cáo tình hình hoạt động… đều chưa được quy định cụ thể. Chắc chắn, khi nhu cầu về sản phẩm Halal ngày càng gia tăng đối với thị trường trong nước, cơ chế quản lý lỏng lẻo hiện nay sẽ tạo nên những “lỗ hổng” pháp luật nhất định.

Hiện nay, khái niệm về Halal, giấy chứng nhận Halal và các tiêu chuẩn liên quan đến pháp luật Hồi Giáo đang còn khá mới mẻ đối với người dân và các cơ sở sản xuất Việt Nam. Mặc dù vậy, các quy định Halal đã được áp dụng rộng rãi từ nhiều năm về trước và luôn được củng cố, xây dựng một cách bền vững trong những năm trở lại đây. Không bàn đến góc độ tín ngưỡng, tôn giáo, việc tìm hiểu và áp dụng Halal dưới góc độ pháp lý và kinh tế cũng đem lại những lợi ích nhất định.

[1] Khoản 3.3, Điều 3, Tiêu Chuẩn Halal Malaysia MS 1500:2019; Khoản 3.2, Điều 3 Tiêu Chuẩn Thực phẩm Halal của các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất UAE.S 2055-1:2015.

[2] Điểm 3.3.1, Khoản 3.3, Điều 3, Tiêu Chuẩn Halal Malaysia MS 1500:2019

[3] Khoản 3.4, Điều 3, Tiêu Chuẩn Thực phẩm Halal của các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất UAE.S 2055-1:2015.

[4] Theo Khoản c, Điều 2 của Đạo Luật số VIII năm 2016 về định nghĩa.

[5] Khoản 3.4, Điều 3, Điểm 4.5.1, Khoản 4.5, Điều 4, Tiêu Chuẩn Halal Malaysia MS 1500:2019; Phụ lục 1, Tiêu Chuẩn Thực phẩm Halal của các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất UAE.S 2055-1:2015.

[6] Khoản 3.5, Điều 3, Tiêu Chuẩn Halal Malaysia MS 1500:2019

[7] Phụ lục 1, Tiêu Chuẩn Thực phẩm Halal của các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất UAE.S 2055-1:2015.

[8] Khoản 4.2, 4.3, 4.4, Điều 4, Tiêu Chuẩn Halal Malaysia 1500:2019

[9] Điều 5, Tiêu chuẩn Chứng nhận Halal HAS 23000:1

[10] Khoản 4.4, Điều 4, Tiêu Chuẩn Halal Malaysia 1500:2019

[11] Bao gồm: Dubai-UAE, Kuwait, Oman, Qatar, Ả Rập Saudi, Bahrain, Yemen

[12] Theo ấn phẩm “Năm hướng dẫn cho thực phẩm an toàn” – Ban hành bởi Cục An toàn vệ sinh thực phẩm, bệnh động vật và bệnh do thực phẩm – WHO.

[13] Chương V – Luật An toàn thực phẩm 2010.

Bài viết liên quan